Mãn đình hồng (thục quỳ): Đặc điểm, cách trồng & chăm sóc

Mãn đình hồng (thục quỳ) Đặc điểm, cách trồng & chăm sóc

Mãn đình hồng còn được gọi là thục quỳ, tên khoa học của loài này là Althaea rosea, một loài thuộc họ Cẩm quỳ. Mãn đình hồng tuy có thời gian ra hoa dài nhưng không nở toàn bộ hoa cùng một lúc mà nở tuần tự từ dưới lên trên, tạo nên một khung cảnh rất thú vị.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Thục quỳ là loài cây thảo sống 2 năm có thể cao tới 2m, thân và cành có đầy gai.

  • Lá dài 5 – 15cm có hình dáng gần giống như lòng bàn tay gồm 5 – 7 thùy nông, mép lượn sóng, các thùy hình tam giác hoặc tròn, thùy giữa dài khoảng 3 cm và rộng 4 – 6 cm. Mặt trên lá có lông thưa và xù xì, mặt dưới phủ lông dài như lông tơ, cuống lá dài 5 – 15 cm, cũng phủ lông dài, lá chét hình bầu dục hoặc hình trứng dài khoảng 8 – 12mm, đỉnh có 3 thùy.
  • Hoa mọc ở nách lá, đơn độc hoặc gần như mọc thành chùm, cuống lá bắc dài khoảng 5 mm, khi ở quả dài 1-2,5 cm; lá đài hình chuông đường kính 2 – 3 cm, có 5 thùy hình trứng hoặc hình tam giác dài 1.2 – 1.5 cm. Bông hoa lớn đường kính 6 – 10 cm gồm các màu đỏ, tím, trắng, hồng, vàng và tím đen. Cánh hoa hình tam giác dài khoảng 4 cm, đỉnh lõm, gốc hẹp; nhị hoa nhẵn dài khoảng 2 cm, chỉ sợi mảnh dài khoảng 2 mm, bao phấn màu vàng, hơi có lông. Thời kỳ ra hoa là từ tháng 2 – tháng 8.
  • Quả  có đường kính khoảng 2 cm, có lông mu, mặt sau dày 1 mm, có rãnh dọc. Có 10 – 20 hạt.
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-thục-quỳ
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-thục-quỳ

2. Đặc điểm sinh trưởng

Mãn đình hồng ưa môi trường nhiều nắng, chịu được bóng râm một chút, thích khí hậu mát mẻ, bộ phận dưới lòng đất có khả năng chịu lạnh tương đối nhưng lại sợ hạn hán hoặc nước đọng. Nó thích đất màu mỡ, đất sâu, tơi xốp thoát nước tốt, chịu kiềm tốt (có thể phát triển trên đất chứa 0,6% muối).

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

1.1. Dược liệu

Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân có ghi lại rằng rễ, thân, lá, hoa và hạt đều có thể dùng làm dược liệu. Cây có vị ngọt, tính mát nên có thể dùng làm thuốc thanh nhiệt và giải độc, khử trùng và lợi tiểu, khả năng kháng và hấp thụ mạnh đối với SO₂, clo, HCl…

  • Rễ: thanh nhiệt, giải độc, thông mủ, lợi tiểu, chữa viêm ruột, kiết lỵ, nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm cổ tử cung, bạch cầu.
  • Thân trị sỏi đường tiết niệu, phù thũng.
  • Hoa tốt cho đại tiện, giải độc và tan ứ, giải độc cá nóc.
  • Hoa và lá trị mụn nhọt, vết loét, vết bỏng.

Cách dùng và liều lượng: Rễ thì 3 – 6g; hạt và hoa 1 – 2g nghiền nát hoặc sắc lấy nước rửa sạch vết thương.

1.2. Kinh tế

Cây non có thể ăn như rau tươi, hoặc luộc hoặc xào nấu đều được. Hoa khô có thể dùng để đốt lửa, thân dùng để dệt vải và làm dây thừng; xay lá thành nước cốt và lau trên giấy tre.

1.3. Trang trí

Thục quỳ có hoa màu đỏ rất đẹp, màu sắc tươi sáng mang lại cho người ta cảm giác tươi mới nên thích hợp trồng ở sân, ven đường, vườn hoa hoặc trồng thành hàng rào sân vườn.

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-mãn-đình-hồng
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-mãn-đình-hồng

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc cây

Hạt giống có thể gieo vào tháng 8 – tháng 9 và sẽ nở hoa vào năm sau (xem thêm bên dưới), nếu gieo vào đầu xuân thì trong năm đó cũng không kịp nở hoa. Cây con sẽ nảy mầm sau khoảng 7 ngày gieo và cần được che phủ nhẹ để tránh thời tiết cực đoan. Khả năng nảy mầm của hạt có thể được duy trì trong vòng 4 năm kể từ khi thu hoạch, nhưng tỷ lệ nảy mầm giảm mạnh từ năm thứ 2.

Việc trồng và chăm sóc mãn đình hồng tương đối đơn giản, khi cây con mọc được 2 – 3 lá thật thì tăng khoảng cách giữa các hàng từ 30 – 40 cm (nếu trồng trong vườn), tưới nước đều đặn. Trong thời kỳ cây con sinh trưởng bón phân lỏng 2 – 3 lần chủ yếu  phân đạm còn trước khi ra thì hoa bón thúc 1 – 2 lần kết hợp xới đất và làm cỏ, ưu tiên phân lân và kali. Cắt bỏ những bộ phận trên mặt đất kịp thời sau khi ra hoa để kích thích nảy chồi mới.

nhân-giống-thục-quỳ-bằng-phương-pháp-gieo-hạt
nhân-giống-thục-quỳ-bằng-phương-pháp-gieo-hạt

Cây thục quỳ già lâu năm dễ bị bệnh gỉ sắt. Lá chuyển sang màu vàng và có thể nhìn thấy những bào tử dạng bột màu nâu ở mặt sau của lá. Bạn có thể  phun 15% bột thiophanate tỷ lệ 1:1000 lần nước, hoặc 70% bột thiophanate methyl 1:1000 – 1500 lần nước, hoặc 75% chlorothalonil 1:600 lần, cứ sau 7 – 10 lần ngày phun một lần và liên tục 2 – 3 lần.

Có thể xuất hiện nhện trong thời kỳ sinh trưởng, khi bệnh nặng thì dùng avermectin EC 1,8% phun đều 1:7000 – 9000 lần để phòng trừ hoặc dùng pyridaben EC 15% 1:2500 – 3000 lần. Đôi khi sâu cuốn lá cũng xuất hiện gây hại cho cây thục quỳ, khi đó có thể phun bột Bt hàm lượng 16000IU/mg 1:500 – 700 lần.

IV. Phương pháp nhân giống

Việc nhân giống có thể được thực hiện bằng phương pháp gieo hạt, phân chia.

1. Gieo hạt

Trước khi gieo hạt nên ngâm trong nước từ 1 đến- 2 giờ, sau khi gieo phủ nhẹ đất lên để duy trì độ ẩm, khoảng 1 – 2 tuần hạt sẽ nảy mầm. Khi cây có 2 – 3 lá thì trồng theo hàng hoặc trồng trong chậu như ở trên.

Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-thục-quỳ
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-thục-quỳ

2. Chia cành

Việc phân chia cây chủ yếu làm vào mùa thu. Đào cả cây lên, dùng dao sắc cắt thành nhiều cụm nhỏ sao cho mỗi cành nhỏ có 2 – 3 nụ hoặc nnhững cành bên mọc ra từ gốc làm cành giâm, dài khoảng 8 cm, có thể cắm vào luống cát ẩm rồi phủ màng nilon để giữ ấm, đặt ở nơi râm mát cho đến khi rễ bén rễ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.