Hoa tường vi: Đặc điểm, ý nghĩa, cách trồng & chăm sóc

Hoa-tường-vi-Đặc-điểm,-ý-nghĩa,-giá,-cách-trồng-&-chăm-sóc

Hoa tường vi có tên khoa học là Rosa Multiflora, nó còn được gọi với nhiều loại tên khác như hoa hồng nhiều hoa, tường vi Nhật, dã tường vi và nó là một loài hoa hồng cổ, loài này xuất hiện nhiều ở Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Theo phân loại khoa học được chấp nhận, nó thuộc bộ phận thực vật hạt kín, họ Rosaceae (họ Hoa hồng). Đài Loan là nguồn gốc của tường vi, độ tuổi ước tính khoảng 40 triệu năm. Các nhà khoa học còn cho rằng chính loài này là tổ tiên của tất cả các giống hoa hồng hiện có trên trái đất.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Đây là một loài cây bụi, cao trung bình 1.5 – 2m nhưng có những cây cao tới 4m, vỏ cây có màu nâu hoặc xanh đỏ, chồi có thể có hoặc không có gai tùy theo giống. Hệ thống rễ của tường vi là rễ cái trong đó rễ chính có thể đâm sâu tới 5 m, nhưng phần lớn rễ nằm cách bụi ~40 cm và ở trong bán kính 60 – 80 cm tính từ gốc thân.

  • Lá là lá kép lông chim gồm 7 – 9 lá chét. Lá chét dài 5 – 8cm và rộng 2 – 4cm, có hình trứng ngược hoặc hình elip, bề mặt nhẵn, mép lá có răng cưa mịn. Mặt dưới hơi mờ, mặt trên bóng và có màu xanh đậm.
  • Hoa có màu trắng hoặc hồng đường kính 1.5 – 10cm; cánh hoa dài 1 – 1.5cm, có 5 lá đài hình mũi mác, thời kỷ ra hoa từ tháng 5 – 7 và kéo dài 3 – 4 tuần. Tường vi ra hoa rất nhiều đến nỗi những bông hoa nở gần như che phủ cả tán cây.
  • Quả là quả mọng có màu đỏ, dài 6 – 9 mm, hình trứng. Trung bình mỗi cây có thể ra tới 500.000 – 1.000.000 hạt. Quả chín vào tháng 9 – 10.
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-tường-vi
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-tường-vi

2. Đặc điểm sinh trưởng

Tường vi thích được trồng ở nơi có ánh nắng đầy đủ hoặc bóng râm vừa phải, không chịu được nhiệt độ quá lạnh và có thể chết nếu < -2°C. Cây phát triển chậm trong 1 – 2 năm đầu, sau đó phát triển nhanh thông qua phân lớp và mầm rễ.

Nhiệt độ sinh trưởng tối ưu là 20 – 25°C.

3. Các loài tương tự

Có 3 loại hoa hồng khác rất giống tường vi là: hoa hồng leo (Rosa setigera), hoa hồng đầm lầy (Rosa palustris) và hoa hồng thảo nguyên (Rosa arkansana). Hoa hồng leo so với tường vi thì thân dài hơn, hoa màu trắng lớn hơn (2-3 cm), cụm hoa hình chóp và quả nhỏ hơn. Hoa hồng đầm lầy khác tường vi ở chỗ có chiều cao ngắn hơn (~2 m) và hoa đơn độc. Thân hoa hồng thảo nguyên được bao phủ bằng những chiếc gai mảnh, thẳng và kích thước tổng thể chỉ khoảng 1m.

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

Quả tường vi cũng như hầu hết các loài hoa hồng dại khác có chứa một lượng lớn vitamin C: Nhiều hơn nho đen 10 lần, gấp 50 lần chanh và gấp 60 – 70 lần so với cây bách xù thường, linh sam, thông hoặc vân sam. Ngoài vitamin C, quả còn chứa vitamin B1, B2, B6, E, K, PP, carotene, tannin, axit malic và citric, đường, phytoncides cũng như kali, magiê, phốt pho, sắt, canxi, đồng, crom, coban, molypden và mangan.

Hoa có nhiều axit hữu cơ, glycoside (đắng và saponin), đường, dầu béo, flavonoid, tannin, sáp, axit ascorbic, anthocyanin (peonidin, cyanidin, peonin). Tinh dầu này có tác dụng chống viêm, diệt khuẩn, kích thích tái tạo màng nhầy và các mô bị tổn thương nên thường được sử dụng cho các vết loét ngoài da.

Lá chứa nhiều catechin, flavonoid, tannin, axit phenolcarboxylic còn cành chứa saponin, catechin, vitamin P, flavonoid, vỏ chứa sorbitol, rễ chứa tannin, catechin, flavonoid, triterpenoid đều có thể dùng làm dược liệu giúp cải thiện quá trình trao đổi chất, điều trị bệnh scorbut, thiếu máu, các bệnh về gan, thận và bàng quang.

  • Pha 2 thìa quả nghiền nát với 500 ml nước, đun sôi trong 15 phút rồi bọc lại và để qua đêm để lọc vào buổi sáng hôm sau, uống với mật ong như trà cả ngày.
  • Nước sắc từ rễ và quả giúp lợi mật, bổ sung vitamin, lợi tiểu và hạ huyết áp.

2. Ý nghĩa

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc cây

1. Trồng & chăm sóc cây

Theo kinh nghiệm của những người làm vườn lâu năm, trồng tường vi vào mùa thu sẽ có tỷ lệ sống cao nhất, nhất là vào nửa cuối tháng 10 – đầu tháng 11. Đất trồng là đất sâu, tơi xốp, tốt nhất là đất thịt pha cát trung tính hoặc hơi chua, không dùng đất sét hoặc đất nhiễm mặn.

Đầu tiên bạn cần đào một cái hố hố sâu khoảng 20 – 25 cm, nếu đất quá chua thì nên bón vôi hoặc bột dolomite vào và chờ 1 tuần. Tiếp theo cho phân hữu cơ mục làm phân lót. Trước khi trồng, cây con được cắt tỉa sao cho cành dài nhất không dài quá 8 – 12 cm, rễ ngắn lại còn 12 – 15 cm, đặt cây sao cho thân rễ nằm dưới bề mặt đất khoảng 5 – 7 cm, phủ đất lại và tưới nước. Nếu không có phân hữu cơ thì có thể bón t150 – 200 g supe lân, 30 – 50 g muối kali và 60 – 70 g amoni nitrat.

Cây có khả năng chịu được nhiệt độ cao. Tuy nhiên, nếu thời tiết nắng nóng kéo dài thì nên tưới nước thường xuyên hơn, mỗi lần ít nhất 4 – 5 chậu nước. Nếu đất đã bón lót thì trong năm đầu tiên không cần bón thêm phân nữa. Vào năm thứ 2 thì tăng cường phân đạm cho cây (bón lần đầu vào tháng 3, lần 2 vào tháng 7, lần cuối vào khoảng tháng 11). Trong các năm tiếp theo, 3 năm/ lần bón phân, hàm lượng 3 – 5 kg ​​mùn hoặc phân hữu cơ vào mỗi cây, kết hợp xới tơi đất và tưới nhiều nước.

Cây từ 3 năm tuổi thì bắt đầu cắt tỉa, đầu tiên là cắt bỏ những chồi bị bệnh, yếu hoặc teo lại. Khi được 5 tuổi thì cây phải gồm 15 – 20 nhánh, nên cắt tỉa vào đầu mùa xuân.

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-tường-vi
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-tường-vi

2. Kiểm soát sâu bệnh

  • Bệnh phấn trắng có biểu hiện là một lớp phủ màu trắng trên lá của cây. Để điều trị bệnh này, người ta thường sử dụng dung dịch vôi lưu huỳnh, đồng thời kết hợp bóh bón phân kali để tăng khả năng kháng bệnh cho cây.
  • Bệnh gỉ sắt dễ dàng nhận biết bằng các đốm nâu ở trên lá, các vị trí bị bệnh cần được cắt bỏ và đốt.
  • Nhện là loài côn trùng cực nhỏ dài không quá 1 mm nhưng có thể phát hiện dễ dàng vì nó sẽ tạo ra một mạng lưới màu trắng giữa các phiến lá. Rệp có màu nâu hoặc xanh lục, sống thành từng đàn và hút nhựa từ cây,. Đối với các loài này thì phải phun thuốc trừ sâu chuyên dụng.
bệnh-phấn-trắng-&-gỉ-sắt-ở-tường-vi
bệnh-phấn-trắng-&-gỉ-sắt-ở-tường-vi
nhện-là-loài-gây-hại-cho-cây
nhện-là-loài-gây-hại-cho-cây

IV. Phương pháp nhân giống

1. Gieo hạt

Cuối tháng 8 và đầu tháng 9, thu hái quả chín để cắt lấy hạt bên trong, rửa sạch bằng nước để bỏ cùi quả. Gieo hạt vào đất trồng sâu 2.5 – 3 cm với khoảng cách 2 cm giữa các hạt, sau đó tưới nước và phủ nilon lại, chờ hạt nảy mầm thì tiếp tục tưới nước giữ ẩm cho đất. Khi cây con có 2 lá thì đem trồng riêng.

2. Giâm cành

Thời điểm giâm cành tốt nhất là tháng 4 và tháng 10 khi nhiệt độ 20 – 25°C là thích hợp nhất. Có thể sử dụng đất vườn, đất mùn, phân hữu cơ và cát sông tỷ lệ 4:2:4:4. Chọn những cành bán gỗ rồi cắt thành các đoạn dài 8 – 10cm, vết cắt phải gọn, nhẵn, bỏ các lá phía dưới, chỉ để lại 3 – 4 lá phía trên. Mua vitamin B12 hoặc thuốc kích rễ rồi nhúng các đầu cắt vào dung dịch, lấy ra và để khô một lúc trước khi trồng.

Độ sâu giâm cành là 3 – 4 cm, dùng tay nén chặt đất xung quanh rồi bọc lại bằng túi nilon, khi cần tưới nước thì mở ra, tưới xong lại buộc lại, để chậu cây ở nơi không có ánh nắng trực tiếp. Thường mất khoảng 2 tháng để cành giâm ra rễ.

Phương-pháp-nhân-giống-tường-vi
Phương-pháp-nhân-giống-tường-vi

3. Chia bụi

Đối với những cây trên 5 năm tuổi, người ta thường sử dụng phương pháp phân chia bụi như sau: Đào cây lên một cách cẩn thận rồi bỏ bớt đất bám vào rễ, chia thân rễ thành nhiều phần sao cho đảm bảo bộ rễ có thể sống tốt, không bị đứt rồi trồng các cây con vào chậu riêng hoặc hố riêng, tước nước cho đất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.