Hoa tử đinh hương: Đặc điểm, ý nghĩa, cách trồng & chăm sóc

Hoa-tử-đinh-hương-Đặc-điểm,-ý-nghĩa,-cách-trồng-&-chăm-sóc

Tử đinh hương là một chi thực vật có tên khoa học Syringa, có khoảng 30 loài trong chi này và hầu hết có nguồn gốc từ châu Âu, tây Ukraine, Carpathians và khắp vùng Balkan. Khu vực phân bố kéo dài từ Cao nguyên Transylvanian của dãy Alps ở phía bắc đến Gertsvenia ở phía Tây, đến Núi Olympus (Hy Lạp) ở phía nam và đến Dãy núi Rhodope ở phía đông, trên các sườn dốc nhiều nắng ở độ cao 1.200 mét so với mực nước biển.

Ở Việt Nam hầu như chỉ có loài tử đinh hương màu tím (Syringa vulgaris) nên nó cũng có tên thường gọi là tử đinh hương. Về cơ bản thì các loài trong chi này ưa ánh sáng, chịu lạnh, chịu hạn tốt. Nội dung sau đây cũng trình bày chi tiết đặc điểm & cách trồng tử đinh hương tím, tên khoa học là Syringa vulgaris.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Đây là một loài cây thân gỗ rụng lá, cao trung bình 2 đến – 3 mét nhưng trong tự nhiên có thể cao tới 7 mét, thân mọc thẳng, cành non nhẵn không có lông, cành già màu nâu xám.

  • Lá có hình bầu dục hoặc hình mũi mác dài 5 – 10 cm và rộng 2 – 9cm, mặt trên màu xanh lục còn mặt sau hơi nhạt, hai mặt không có lông. Lá có gân như gân lông chim, mặt giữa phẳng hơi nhô ra phía sau, đỉnh lá nhọn, gốc lá cùn; cuống lá dài 1.5 – 2 cm.
  • Hoa mọc ra từ các chồi bên, dài khoảng 6 – 20 cm, hoa đơn hoặc kép và có mùi thơm nồng, cánh hoa màu xanh tím nhạt và trắng, đường kính ~1.5 cm, ống tràng dài khoảng 1 cm, thùy hình bầu dục xòe ra phía ngoài; bao phấn màu vàng nằm dưới họng miệng ống tràng. Cuống hoa dài 5 – 20 mm, 2 nhị hoa.
  • Quả là quả nang dài 1 – 2 cm, bề mặt nhẵn, trong có 2 hạt. Thời kỳ ra hoa từ tháng 4 – tháng 5, thời kỳ quả chín từ tháng 8 – tháng 9. Có hiện tượng nở hoa 2 lần vào mùa hè và mùa thu, tuy nhiên những cành này sẽ không nở hoa vào mùa xuân năm sau.
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-tử-đinh-hương
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-tử-đinh-hương

2. Đặc điểm sinh trưởng

Cây ưa sáng tự nhiên, chịu hạn, chịu lạnh tốt dưới -15°C. Nó thích đất thoát nước tốt, hơi kiềm. Hiện nay trên thế giới có hơn 2.300 giống, nhà thực vật nổi tiếng nhất về loài hoa này có lẽ là nhà thực vật người Pháp Victor Lemoine, cũng như con trai và cháu trai của ông.

3. Phân loài

  1. Syringa Persica: Là giống lai của Afghanistan ( Siringa alghanica ) với Siringa laciniata. Loài này là cây bụi, cao trung bình 1 – 2m với tán cây xòe rộng, nở nhiều hoa dài 5 – 10 cm và rộng 5 – 7.5 cm. Hoa có màu trắng hoa cà hoặc trắng, có mùi thơm. Thời gian ra hoa là tháng 5 – 6, ra quả sau 1 – 2 tháng. Loài này được giới thiệu vào năm 1640, không phát triển trong tự nhiên.
  2. Syringa x chinensis: Một giống lai giữa Syringa Persica và Syringa Vulgaris vào năm 1777. Cây bụi cao tới 5 m, tán xòe. Lá  dài tới 10 cm, hoa nhỏ đường kính ~ 2 cm, có màu tím đậm, màu đỏ tím.
  3. Syringa emodi: Đây là một loại cây bụi cao tới 4.,5 m. Các chồi lá có màu nâu hoặc xanh ô liu. Lá có hình elip, dài 5 – 22 cm và rộng 2.5 – 12 cm, nhọn ở đỉnh, thuôn ở gốc. Cụm hoa dạng chùm dài 12 – 15 cm và rộng 3 – 8 cm, mọc tứ diện. Hoa có đường kính ~1 cm, màu vàng kem pha chút hồng, mùi khó chịu. Cây chịu sương giá tốt và có thể sống ở đất có độ mặn cao.
  4. Syringa villosa: Đây là cây bụi cao 4 m, lá rậm. Cành non có màu vàng xám. Cụm hoa mọc thẳng, dài 15 – 30 cm và có màu hồng tím, có mùi thơm.
  5. Syringa sweginzowii lần đầu tiên được phát hiện bởi đoàn thám hiểm của G.N. Potanin vào năm 1894. Nó chỉ được mô tả vào năm 1910 bởi E. Koehne. Được đặt tên để vinh danh thống đốc Riga Zvegintsov. Hoa mọc thành cụm dài 14 – 27 cm và rộng 8 – 12 cm. Cánh hoa có màu trắng hồng, có mùi thơm.
  6. syringa amurensis có thể cao tới 20 m trong tự nhiên. Trong nuôi trồng cũng có thể cao tới 10 m. Vỏ có màu xám đen, đôi khi có màu nâu sẫm; lá dài 5-11 cm. Hoa nhỏ màu trắng hoặc vàng kem, có mùi mật ong, và cũng mọc thành cụm dài tới 25 cm. Loài này nở sau loài chính khoảng 3 tuần, kéo dài trong 20 ngày rồi tàn, được ứng dụng trồng trọt từ năm 1855.
  7. Syringa josikaea là loài mọc hoang ở Hungary, Nam Tư và Carpathians. Đây là loài cây bụi cao 3 – 7m. Lá hình elip rộng, màu xanh đậm, sáng bóng, dài tới 12 cm. Hoa màu tím, có mùi thơm nhẹ, được trồng nhiều từ năm 1830.
  8. Syringa Reflexa cũng là cây bụi thân mọc thẳng, cao tới 3 m, cành rậm ở phía trên. Lá dài 15 cm, hình trứng thuôn dài. Hoa có màu đỏ hồng ở bên ngoài, bên trong gần như trắng, đường kính ~1 cm.
  9. Syringa microphylla (đinh hương lá nhỏ) là cây bụi cao 1.5 – 2 mét, tán rộng tương tự. Lá rất nhỏ, tròn hoặc hơi thuôn. Hoa có màu hồng tím, sau nhạt dần.
Hoa-tử-đinh-hương-Đặc-điểm,-ý-nghĩa,-cách-trồng-&-chăm-sóc
Hoa-tử-đinh-hương-Đặc-điểm,-ý-nghĩa,-cách-trồng-&-chăm-sóc

II. Tác dụng & ý nghĩa của cây

1. Tác dụng

Các bộ phận khác nhau của tử đinh hương có chứa tinh dầu, phenoglycoside sinigrin, syrygnopicrin và farnesol. Về mặt hóa học, nó chưa được nghiên cứu đầy đủ nhưng trong y học truyền thống thì đã được sử dụng để điều trị bệnh sốt rét, bệnh viêm thận và sỏi thận. Dịch chiết từ nụ và hoa được dùng để điều trị bệnh hen phế quản, lá (hoặc vỏ và cành non) có thể điều trị những vết thương mưng mủ và vết loét khó lành.

Nó cũng được trồng nhiều làm cây bụi trang trí sân vườn. Cách thu hoạch các bộ phận của cây để sử dụng cho các mục đích trên hoặc mục đích khác: Hái hoa cùng chồi cùng với cành non và phơi khô, hái lá khi thời tiết khô ráo vào đầu mùa hè, cũng phơi khô hoặc sấy ở nhiệt độ 40 – 60°C.

2. Ý nghĩa

Tử đinh hương là loài hoa biểu tượng của Thánh Julia tử đạo ở Corsica vào thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên, người không chịu thỏa hiệp với tà giáo cho đến khi chết, cuối cùng cô đã tử vì đạo và chết trên đảo Corsica.

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-tử-đinh-hương
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-tử-đinh-hương

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc cây

1. Trồng cây

Nơi trồng cây phải có nắng, thoát nước tốt nếu không sẽ làm cây ít ra hoa, sinh trưởng kém. Nếu trồng trong vườn theo hàng thì khoảng cách giữa các cây tối thiểu là  2 – 3 mét, hố trồng có đường kính từ 70cm – 80cm, sâu 50 – 60cm. Trước khi trồng, bón 3 – 5 kg phân hữu cơ đã phân hủy cho mỗi hố, phủ đất một phần sau khi bón phân tránh để rễ tiếp xúc trực tiếp với phân. Sau khi trồng tưới nước thật kỹ, sau đó 10 ngày tưới 1 lần, liên tục 3 – 5 lần, sau khi tưới nước cần xới tơi đất để giữ ẩm.

Sau khi trồng thì không cần bón phân hoặc chỉ bón một lượng nhỏ phân bón (ưu tiên phân kali) sau khi cây ra hoa. Khi bón thúc thì bón quanh gốc cách 30 – 50cm, sau đó phủ đất lên, tưới nước một lần và tưới thật kỹ.

2. Chăm sóc cây

Khi cây đã bắt đầu bén rễ và phát triển thì việc chăm sóc tương đối đơn giản:

  • Tưới nước 2 – 3 lần một tháng. Khi mùa mưa bắt đầu thì ngừng tưới và chú ý thoát nước, chống ngập úng. Cây hoàn toàn có thể phát triển tốt nhờ nước mưa tự nhiên.
  • Không cần bón phân hoặc chỉ bón một lượng nhỏ phân lân và kali, không bón đạm nếu không cànhoa mọc dài và khó ra nụ hoa.
  • Vào cuối mùa xuân hoặc đầu hạ hàng năm thì cắt bỏ những cành rậm rạp, cành thưa và những cành bị bệnh.

3. Kiểm soát sâu bệnh

Các loại sâu bệnh chính bao gồm đốm lá, sâu sừng, sâu xanh da láng…

  • Đối với bệnh đốm lá, bạn có thể sử dụng 50% bột thấm carbendazim tỷ lệ 1:500 – 1000 lần nước, hoặc 75% chlorothalonil 1:500 lần, hoặc 80% mancozeb 1:500 – 800 lần nước, hoặc 70% A Kitopuzin 1:1000 – 1200 lần. , định kỳ 7 – 10 ngày phun một lần, phun liên tục 3 – 4 lần.
  • Đối với sâu ăn lá, giai đoạn đầu có thể phun bột thấm 1600IU/mg Bt tỷ lệ 1:1000 – 1200 lần nước để sâu chết dần.
  • Bệnh phấn trắng và bệnh héo lá verticillium có thể ngăn chặn bằng cách phun dung dịch xà phòng hoặc thuốc Abiga-Peak.
  • Sâu bướm và côn trùng cánh vảy thường khiến lá xuất hiện đốm nâu và lá cuộn tròn lại. Bạn có thể kiểm soát sâu bướm bằng dung dịch Actellik, Inta-vir, Karbafos hoặc Fufanon. Ngoài ra nên thu gom lá rụng và đốt.

IV. Phương pháp nhân giống

1. Gieo hạt

Sau khi thu hái quả chín từ tháng 9 – tháng 10 để tránh quả bị nứt và mất hạt thì phơi nắng cho quả nứt vỏ rồi đập dập, lấy hạt bên trong. Hạt giống nên được gieo từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 4 năm sau. Trước khi gieo thì phân tầng trong cát ở nhiệt độ 0°C – 7°C từ tháng 1 đến tháng 2 để hạt bắt buộc trải qua thời gian ngủ đông, tác dụng là thúc đẩy hạt nảy mầm nhanh hơn. Hạt có thể nảy mầm sau 15 – 20 ngày kể từ khi gieo.

2. Giâm cành

Nhân giống bằng phương pháp giâm cành được thực hiện sau khi lá rụng vào mùa đông và trước khi cây nảy mầm vào mùa xuân, hoặc 1 tháng sau khi cây nở hoa. Chọn những cành khỏe đã có thân gỗ, cắt thành đoạn dài 15 – 20 cm sao cho trên cành có 2 – 3 chồi. đầu trên cách chồi 1 cm, chỉ để lại cặp lá trên cùng và cắt bỏ 1/2 trên mỗi lá. Trước khi cắt thì nên ngâm vào bột (hoặc dung dịch kích rễ) như ABT khoảng 16 tiếng rồi mới cắm vào luống giâm, độ sâu từ 1/3 – 1/2 chiều dài cành, dùng màng nhựa bọc lại để giữ ẩm, giữ ẩm, sau 1 tháng sẽ ra rễ.

Đất trồng nên là hỗn hợp than bùn, cát nhẹ và cát thô theo tỷ lệ bằng nhau.

nhân-giống-tử-đinh-hương-bằng-phương-pháp-giâm-cành
nhân-giống-tử-đinh-hương-bằng-phương-pháp-giâm-cành

3. Xếp lớp

Một chồi non được cố định ở gốc bằng dây đồng. Dây thứ hai cách dây này 80 cm. Chồi được bẻ cong sao cho sát đất thì ép nó vào rãnh đất sâu 1.5 – 2 cm rồi phủ đất ẩm lên, chỉ để lại phần ngọn của chồi trên mặt đất, luôn đảm bảo đất ẩm trong quá trình chờ chồi ra rễ. Sau đó, dùng kéo cắt các phần của chồi sao cho mỗi phần có rễ phát triển và thân đều, khỏe mạnh rồi trồng riêng.

nhân-giống-bằng-phương-pháp-ghép-cành
nhân-giống-bằng-phương-pháp-ghép-cành

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.