Có lẽ khó có thể tưởng tượng được những cây có hoa thơm và đẹp hơn hoa mộc lan và đỗ quyên.

Ngọc lan là tên của một chi thực vật có hoa với tên khoa học Michelia, chi này thuộc họ Magnoliaceae (họ Mộc Lan), gồm khoảng 50 loài thân gỗ hoặc cây bụi có hoa, lá màu xanh ngọc lục bảo dài tới 16 cm, hoa có mùi thơm nở vào mùa xuân, chủ yếu phân bố ở các miền nhiệt đới, cận nhiệt đới của Nam Á hoặc Đông Nam Á. Trong các loài của chi Ngọc lan thì có 2 loài phổ biến nhất là hoàng ngọc lan (Michelia Champaca) và bạch ngọc lan (Michelia Alba), trong đó bạch ngọc lan là loài cây lai giữa hoàng ngọc lan với Magnolia montana, cũng ít thấy. Vì vậy trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về loài chính là hoàng ngọc lan hay ngọc lan vàng (Michelia Champaca).

Ngọc lan trước đây được phân vào chi mộc lan, là một trong những cây lâu đời nhất trên thế giới, người ta nói rằng chi này tồn tại từ thời khủng long, có hai trăm loài và do sức hấp dẫn của chúng nên là cây trồng quan trọng nhất trong quy hoạch cảnh quan và sân vườn vòng quanh thế giới. Các loài trong chi Ngọc lan được phân biệt với mộc lan nhờ vị trí của hoa: Mộc lan chỉ nở hoa ở đầu cành trong khi ngọc lan mọc dọc theo thân ở nách lá.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

1.1. Hoàng ngọc lan

Michelia champaca là cây thân gỗ thường xanh có thể cao hơn 10 mét, cành mọc xiên lên trên, tạo thành tán hẹp hình chiếc ô, thân được bao phủ bởi lớp lông tơ màu vàng nhạt.

  • Lá có hình elip hoặc hình trứng hẹp (dài 10 – 35 cm, rộng 4 – 11 cm), xếp xoắn ốc và hơi có lông ở mặt dưới. Đầu lá ngắn, gốc lá hình nêm đến tròn. Có 14 – 23 cặp gân phụ nổi rõ hơn ở mặt dưới của lá, cuống lá dài 1.5 – 3.5 cm, các lá kèm dài tới 6.5 cm, có lông và bám vào cuống lá dài ít nhất 0.7 – 3.9 cm, khi rụng để lại vết sẹo hình vòng trên cành.
  • Hoa mọc đơn lẻ ở nách lá, có mùi thơm, màu vàng nhạt khi còn non và chuyển sang màu vàng cam khi trưởng thành. Mỗi bông hoa dài khoảng 2 – 4.5 cm, bao gồm 5 đài hoa xếp thành nhiều vòng xoắn không dễ thấy, trong đó các đài hoa ngoài cùng hình trứng ngược và các đài hoa trong cùng hẹp hơn. Brachyblast (Spur) có lông mu dày đặc, có 2 – 3 nút dài 1 – 1.8 cm. Nhị dài 0.6 – 0.8 cm, có các phần phụ liên kết dài tới 0.1 cm.
  • Quả mọc thành cụm theo hình xoắn ốc (dài 6 – 30 cm) rủ xuống. Mỗi cụm gồm 6 – 40 quả riêng lẻ, mỗi quả dài 1.5 – 2 cm, thân gỗ, màu nâu nhạt với những hạt đậu lăng lớn màu kem. Quả chín nứt ra để lộ 2 – 6 hạt bên trong. Hạt được bao phủ bởi thịt màu đỏ hoặc hồng và treo tự do trên một sợi mỏng màu trắng.
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-hoàng-ngọc-lan
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-hoàng-ngọc-lan

1.2. Bạch ngọc lan

Đây là một loài lai giữa Magnolia champaca với Magnolia montana, thường ít thấy trong thiên nhiên hoang dã mà chủ yếu được nhân giống để trồng làm cảnh. Magnolia alba là cây thân gỗ lớn, cây lón có thể cao đến 15m. Lá hình bầu dục, thon, dài 15 – 25cm. Hoa màu trắng mọc ở đầu cành, rất thơm, có từ 8-12 lá  đài. Ít khi ra quả, quả là loại quả nang khô, cứng, màu đỏ hoặc xanh.

Bạch-ngọc-lan-(ngọc-lan-trắng---Michelia-Alba)
Bạch-ngọc-lan-(ngọc-lan-trắng—Michelia-Alba)

2. Đặc điểm sinh trưởng

Cây ưa khí hậu ấm áp, không chịu lạnh, nhiệt độ tối thiểu > 5 độ C. Đất thoát nước tốt và màu mỡ, hơi chua. Cây từ 2 đến 3 năm tuổi mới có thể ra quả. Nên trồng ở nơi có đủ ánh nắng. Để cây ra hoa nhiều thì bạn nên ngừng bón phân đạm, cắt bỏ những cành dài, làm cong cành cho chúng lùn lại, bón phân lân và kali để thúc đẩy ra hoa.

Ngọc lan nở hoa rất nhiều trong một thời gian dài, cây thường nở hoa vào mùa mưa nhưng trong điều kiện lý tưởng cũng có thể nở hoa vào mùa xuân, hạ và thu. Vào thời gian nở hoa cao điểm, cây được bao phủ bởi hàng nghìn bông hoa màu vàng làm lan tỏa ra xung quanh hàng trăm mét một hương thơm vô cùng mạnh mẽ, say đắm, ngọt ngào trong đêm.

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

1.1. Giá trị kinh tế

Trong y học Ayurvedic, người ta dùng vỏ cây để hạ sốt trong khi lá làm trà để giảm ho và viêm amidan. Hoa và nụ được cho là có đặc tính sát trùng và được bôi ngoài vết thương hoặc viêm. Gỗ nhẹ và bền, có thể dùng làm gỗ làm đồ nội thất, tấm cửa, tủ, đồ vật thiêng liêng như chuỗi hạt cũng như quan tài. Hoa rất giàu tinh dầu và được dùng làm nước hoa, dầu dưỡng tóc. Tinh dầu ngọc lan trắng có hoạt tính kháng khuẩn rõ rệt, linalool với hàm lượng cực cao trong tinh dầu làm giảm việc sản xuất oxit nitric, có tác dụng làm giãn các mạch máu để thúc đẩy lưu thông máu, đồng thời mang lại nhiều lợi ích sức khỏe khác. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu xác nhận tác dụng giảm đau của linalool nhờ sự tương tác của nó với các thụ thể adenosine A1 và A2.

  • Kháng khuẩn;
  • Thuốc sát trùng;
  • Chống co thắt;
  • Chống viêm;
  • Thuốc giảm đau;
  • kích thích tình dục.

Theo một số nhà trị liệu bằng hương thơm, tinh dầu có thể tăng cường sản xuất enkephalin và serotonin, từ đó phát huy tác dụng hưng phấn nhẹ cho cả hai giới. Nước hoa của cây được tạo ra lần đầu tiên vào năm 1935.

1.2. Thuốc

Vỏ và thân chứa eucalyptine, leucine, eucalyptine, magnolinine và magnolinine. Lá chứa dầu dễ bay hơi, thành phần chính là linalool, linalool acetate, methyl heptenone , geranol…

  • Vỏ cây được sử dụng trong dân gian ở Ấn Độ để điều trị u bụng lành tính
  • Quả và rễ chữa đau bụng, khó tiêu, chữa đau nhức xương khớp và hóc xương.

2. Ý nghĩa

  1. Tượng trưng cho sự kiên định.
  2. Tặng hoa cho người yêu để hy vọng rằng kiếp này bạn có thể bảo vệ cô ấy thật tốt, và tình yêu hai người dành cho nhau sẽ không bao giờ thay đổi.
  3. Tặng hoa cho bạn thân, tri kỷ thay cho lời chúc họ có một đời hạnh phúc và tạo dựng tương lai tươi đẹp của riêng mình.
  4. Lòng biết ơn.

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc cây

Đất trồng cây phải là loại đất tơi xốp, thoáng khí, giàu mùn. Đáy chậu có lót gạch vụn và có lỗ thoát nước tốt là lựa chọn tốt nhất.

  • Ánh sáng: Đảm bảo cậy nhận đủ ánh sáng tự nhiên trong ít nhất 6 tiếng/ ngày, vào mùa hè thì cần được che bóng tránh nắng gắt vào giữa trưa. Nếu cây không nhân đủ ánh sáng thì cành và lá sẽ phát triển mạnh nhưng ít ra hoa.
  • Bón phân: Trong giai đoạn sinh trưởng, bón phân hỗn hợp NPK hàng tháng, giảm tần suất bón phân vào mùa đông.
  • Tưới nước: Không cần tưới nước thường xuyên, chỉ tưới khi đất trong chậu hơi khô. Vào mùa hè thì tưới 2 lần vào buổi sáng và tối, mùa thu thì 2 – 3 ngày tưới 1 lần, mùa đông kéo dài thời gian hơn tùy thuộc vào độ khô của đất.
  • Cắt tỉa: Cắt tỉa những cành chết, cành bị bệnh và lá già để giúp cây tiêu tốn ít dinh dưỡng. Cắt tỉa kịp thời khi cây ra nụ và sau khi ra hoa.

2. Kiểm soát sâu bệnh

2.1. Bệnh chính

2.1.1. Bệnh thán thư

Bệnh thán thư chủ yếu gây hại cho lá, bệnh xuất hiện ở ngọn hoặc mép lá. Ở giai đoạn đầu, trên lá xuất hiện những hạt nhỏ màu đen hoặc nâu sau lan dần ra làm héo lá. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là nấm trên cây hoặc lá rụng, lây lan sang cây nhờ gió và mưa. Các bào tử nảy mầm trong giọt nước, xâm nhập vào mô lá và gây bệnh. Các phòng trừ là tăng cường quản lý nước và phân bón, đốt lá rụng. Nếu có dấu hiệu của bệnh thì phun chlorothalonil 75% tỷ lệ 1: 800 lần nước, 10 ngày phun 1 lần và phun liên tục 3 – 4 lần.

2.1.2. Vàng lá

Đầu tiên lá chét bị úa vàng, gân lá vẫn xanh nhưng sau khi bệnh lây lan thì toàn bộ lá chuyển vàng. Đây là loại bệnh sinh lý, chủ yếu do đất sét, độ pH quá cao, không đủ sắt sunfat. Do đó bạn có thể dùng dung dịch sắt sunfat 0,2% để tưới vào rễ hoặc sắt sunfat 0,1% để phun lên lá, đòng thời bón thêm phân chuồng.

2.1.3. Cháy lá

Triệu chứng ban đầu là mép lá bị cháy, sau đó lá teo lại và khô, rụng đi. Bệnh này thường gặp khi đất ít dinh dưỡng, nhiệt độ cao kéo dài, hạn hán, ánh sáng quá mức; đất bị kiềm hóa hoặc ra hoa quá nhiều.

2.2. Các loài gây hại

Các loài gây hại chính là: sâu bướm, nhện đỏ, bọ cánh cứng. Thỉnh thoảng cũng có những loài gây hại dưới lòng đất như sâu bọ. Nếu xảy ra sâu bệnh dùng 80% dichlorvos EC tỷ lệ 1:800 lần nước hoặc 50% fenitrothion EC 1: 800 lần để diệt sâu bướm; dùng 40% dicofol 1: 800 lần nước hoặc 5% Nisolan 1: 2000 lần để diệt nhện; dùng kẽm sulfat 50% tỷ lệ 1:1000 lần nước để diệt sâu bọ trong đất.

IV. Phương pháp nhân giống

Nhân giống ngọc lan chủ yếu bằng gieo hạt nhưng cũng có thể ghép cành. Hạt giống phải được thu hoạch kịp thời khi chúng vừa nứt và có màu đỏ, sau đó bảo quản trong cát cho đến khi gieo. Trước khi gieo, ngâm hạt trong nước ấm vài tiếng và bỏ lớp vỏ mềm, sau đó sàng lọc hạt tốt rồi ngâm trong dung dịch chất kích thích tăng trưởng hoặc nguyên tố vi lượng trong 6 – 8 giờ. Gieo trong hỗn hợp đất trồng tơi xốp, giàu dinh dưỡng, ẩm vừa phải, lượng chất hữu cơ và chất trơ vừa đủ, phủ màng nilon giữ ấm cho đất, hạt sẽ nảy mầm ở nhiệt độ 28 – 32°C. Có thể mất 1.5 – 4.5 tháng để hạt nảy mầm. Khi cây được 3 – 4 năm thì trồng ra đất vườn, cây trồng từ hạt có thể nở hoa sau 4 – 6 năm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.