Lan kiếm được tìm thấy ở các khu rừng thưa thớt hoặc trên cây khác ở độ cao 1000 – 1100 mét so với mức nước biển tại các khu vực phía Đông Nam đến phía Nam Vân Nam Trung Quốc, Sri Lanka đến Nepal và Java ở Indonesia. Lan kiếm là sinh trưởng nhanh, kháng bệnh tốt, hoa đẹp nên có giá trị làm cảnh cao, ngoài ra các bộ phận của cây còn có thể dùng làm thuốc.

Lan kiếm là một chi thực vật có tên khoa học là Cymbidium, chi này có khoảng 60 loài và nằm trong họ Orchidaceae (họ Lan). Họ Lan là một trong những họ lớn nhất hiện nay bên cạnh họ Cúc, với khoảng 22.000 loài.  Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể về Cymbidium aloifolium và là loài phổ biến nhất trong chi, cũng có tên là lan kiếm (lan lô hội).

Hoa-lan-kiếm-Đặc-điểm,-giá,-cách-trồng-&-chăm-sóc
Hoa-lan-kiếm-Đặc-điểm,-giá,-cách-trồng-&-chăm-sóc

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Lan kiếm là cây sống phụ sinh (biểu sinh). Giả hành hình trứng, dài 3 – 6 (đôi khi tới 10) cm, rộng 2.5 – 4 cm, thường được bao bọc kín trong các bẹ lá ở gốc. Cây sinh trưởng khỏe mạnh, kháng bệnh tốt, có giá trị làm cảnh cao.

  • Mỗi giả hành thường có 4 – 5 lá. hình dải băng, chất da dày, cứng, hơi cong ra ngoài, dài 40 – 90 cm, rộng 1.5 – 4 cm. Đỉnh lá xẻ thành 2 thùy tròn hoặc tù không đều nhau. Trên lá có một khớp rõ ràng cách gốc 8-  16 cm.
  • Cụm hoa: Cán hoa (vòi hoa) nở ra từ gốc giả hành, xuyên qua bẹ lá, rủ xuống, dài 20 – 60 cm. Cụm hoa dạng chùm (raceme), mang 15 – 35 hoa. Lá bắc nhỏ, dài 2 – 5 mm. Cuống hoa và bầu nhụy dài 1.2 – 2 cm.
    • Hoa hơi nhỏ, có mùi thơm nhẹ.
      • Cánh hoa & Lá đài: Màu nền vàng nhạt đến vàng kem. Đặc trưng bởi ở giữa có một dải rộng màu nâu hạt dẻ và nhiều đường sọc nhỏ cùng màu chạy dọc. Lá đài hình thuôn dài đến hình elip hẹp, dài 1.5 – 2 cm, rộng 4 – 6 mm. Cánh hoa hơi ngắn hơn lá đài, hình elip hẹp.
      • Môi (Cánh môi): Màu trắng hoặc vàng kem, có nhiều sọc dọc màu nâu hạt dẻ dày đặc. Môi có hình dạng gần giống hình trứng, dài 1.3 – 2 cm, chia 3 thùy, gốc môi hơi phồng dạng túi, mặt trên môi có các nhú nhỏ hoặc lông tơ mịn. Thùy bên vươn cao hơn cả trụ nhụy và nắp bao phấn. Thùy giữa cong ra ngoài. Đĩa môi có 2 đường sống (kiel) chạy dọc, hơi cong, hẹp lại hoặc đứt đoạn ở giữa, phình to ở hai đầu.
      • Trụ nhụy: Dài 1 – 1.2 cm, hơi cong về phía trước. Khối phấn 2.
  • Quả nang hình elip thuôn dài, dài 3.5 – 6.5 cm, rộng 2 – 3 cm.

Thời gian hoa quả: Mùa hoa chính vào mùa xuân (tháng 4-5), đôi khi có thể thấy hoa vào mùa thu (tháng 10).

Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-lan-kiếm
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-lan-kiếm

2. Đặc điểm sinh trưởng

Lan kiếm trong tự nhiên thường mọc ở các vùng núi sâu, trên vách đá trong thung lũng hoặc sườn núi dốc, nơi có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt. Chúng ưa mọc trong các khe đá, bên cạnh các đám cỏ thưa hoặc dưới bóng râm của rừng thưa, rừng thứ sinh. Đây là những vị trí có bóng râm, thời gian chiếu sáng trong ngày ngắn hoặc chỉ nhận được ánh sáng lọt qua tán lá, đồng thời độ ẩm không khí cao nhưng không khí vẫn lưu thông tốt. Đôi khi cũng tìm thấy cây mọc trên vách đá ven suối trong núi.

Nhiệt độ lý tưởng nhất cho cây sinh trưởng là 15 – 30°C. Nếu nhiệt độ trên 35°C cây sẽ phát triển kém. Cây không chịu được rét đậm kéo dài, nhiệt độ < 5°C sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức sống và cây thường bước vào trạng thái ngủ nghỉ. Cần tránh sương giá và đưa cây vào nơi ấm hơn nếu nhiệt độ xuống quá thấp.

3. Các loài điển hình khác

  • Cymbidium eburneum có nguồn gốc ở dãy Himalaya. Đây là một loài cây lớn với các đường cong hình vòng cung và các lá thẳng, hoa thơm có đường kính 7.5 cm, màu kem, môi hoa lượn sóng, ở gốc cánh hoa có một đường gờ màu vàng bao quanh bởi các đốm đỏ.
  • Cymbidium lancifolium có hoa có đường kính tới 5 cm, lá đài và cánh hoa có màu xanh nhạt với một đường gân màu đỏ sẫm ở giữa, môi hoa có màu trắng và xanh lục với các sọc nâu đỏ ở thùy bên. Ra hoa từ tháng 4 – tháng 10.
  • Cymbidium dayanum có hoa mọc thành cụm nhiều hoa, đường kính 5 cm. Lá đài và cánh hoa màu ngà với gân ở giữa màu đỏ sậm, môi màu trắng có thùy trước cong mạnh, mô sẹo màu kem hoặc trắng. Nócó nguồn gốc từ Philippines và Sumatra, nở hoa từ tháng 8 – tháng 12.
  • Cymbidium tracyanum có đường kính hoa tới 15 cm, hoa rất thơm, màu vàng xanh với những đường chấm màu nâu đỏ dọc theo gân lá. Môi hoa gợn sóng và đôi khi có viền dọc theo mép, màu kem với các sọc đỏ và đốm dọc theo thùy trước. Ra hoa từ tháng 9 – tháng 1 năm sau.
  • Cymbidium lowianum là một loại thực vật biểu sinh, hoa có đường kính lên tới 20 cm. Lá đài và cánh hoa có màu vàng lục, môi hoa chia 3 thùy có màu đỏ thẫm với đường viền màu vàng dọc theo mép của thùy giữa. Cây cao gần 1 mét, lá thẳng, dài 75 cm. Nguồn gốc của loài này là Miến Điện, ra hoa từ tháng 2 – tháng 6.
  • Cymbidium ensifolium là một loài lan trên cạn mọc ở vùng núi đá. Cánh hoa có màu vàng nhạt với những đường gân màu đỏ tía, ở gốc cánh hoa có những đốm màu đỏ tía. Môi hoa có màu xanh lục hoặc vàng nhạt, thùy giữa lốm đốm màu đỏ sậm, thùy bên có sọc nâu. Cụm hoa gồm 3 – 9 hoa rất thơm, đường kính 3 – 5 cm, cuống mọc thẳng cao từ 15 – 65 cm. Ra hoa từ tháng 1 – tháng 4.
  • Địa lan lùn (Cymbidium pumilum) thường có cánh hoa màu nâu đỏ viền hơi vàng. Môi hoa màu trắng có đốm đỏ sẫm, phiến giữa nhọn và cong. Cụm hoa gần như mọc thẳng dài 12 cm và đường kính của hoa trung bình là 10 cm. Nguồn gốc của loài này là Nhật Bản và Trung Quốc, nở hoa từ tháng 12 – tháng 3 năm sau. Đây là một loài rất hiếm.
  • Cymbidium insigne được phân biệt bằng cánh hoa màu trắng hoặc hồng nhạt có đốm đỏ. Các thùy môi cũng có đốm màu tím; mép lượn sóng của thùy trước cong về phía sau. Cụm hoa có 9 – 15 hoa, đường kính 7 – 8 cm, mọc rời, thẳng đứng, cao tới 80 cm. Nguồn gốc là Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam. Ra hoa từ tháng 2 – tháng 5. Đây là một loài biểu sinh.
  • Địa lan khổng lồ (Cymbidium giganteum) có tới 15 bông hoa thơm mọc thành cụm, mỗi hoa có đường kính 10 – 12 cm với các cánh hoa màu vàng xanh có sọc đỏ, môi màu kem, cũng có đốm và sọc. Cụm hoa treo từ một chùm hoa dài 60 cm. Nó mọc tự nhiên ở dãy Himalaya, nở từ tháng 11 – tháng 4 năm sau và hoa không tàn trong 3 – 4 tuần.

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

Lan kiếm sinh trưởng khỏe, kháng bệnh tốt, có giá trị làm cảnh cao. Ngoài ra, theo y học cổ truyền, toàn cây có thể dùng làm thuốc trị ho do nhiệt ở phổi, lao phổi, viêm họng, quai bị… (Lưu ý: Việc sử dụng làm thuốc cần có chỉ định của thầy thuốc chuyên môn).

2. Ý nghĩa

Hoa Lan (đặc biệt là các loài địa lan như Lan Kiếm) có vị trí văn hóa lâu đời và sâu sắc ở Trung Quốc, từ truyền thuyết thời Đế Nghiêu đến Khổng Tử và Khuất Nguyên. Lan được xem là biểu tượng của phẩm chất cao quý, thanh tao, thuần khiết, vẻ đẹp lý tưởng. Hình tượng và khí chất của hoa lan ảnh hưởng lớn đến văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ (ví dụ: “lan giao” – tình bạn đẹp, “lan tâm huệ chất” – phẩm chất tốt đẹp) và trở thành biểu tượng cho những điều tốt đẹp trong tâm thức người Trung Quốc.

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc hoa

1. Trồng & chăm sóc cây

Lan Kiếm có rễ thịt, ưa đất cát pha giàu mùn, tơi xốp, thoát nước tốt và hơi chua (pH 5.5-6.5). Khi trồng lại, nên rửa sạch rễ trước. Lót đáy chậu bằng sỏi hoặc vật liệu thoát nước, cho một lớp giá thể (như hỗn hợp đất thịt nhẹ và mùn lá) vào khoảng 1/3 chậu. Đặt cây vào giữa, thêm giá thể xung quanh rễ, có thể nhấc nhẹ cây lên một chút rồi ấn chặt đất quanh gốc. Phủ lớp rêu sphagnum hoặc sỏi mịn lên mặt chậu để giữ ẩm và tránh đóng váng. Tưới đẫm nước ngay sau khi trồng và đặt cây ở nơi râm mát trong khoảng một tháng, duy trì độ ẩm phù hợp.

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-hoa-lan-kiếm
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-hoa-lan-kiếm
  • Tưới nước đẫm khi giá thể bắt đầu khô, đảm bảo thoát nước tốt và tránh úng. Tần suất tưới tùy thuộc vào loại giá thể (thoáng thì tưới thường xuyên hơn). Dùng nước sạch, hơi chua.
  • Nhiệt độ phát triển tốt nhất là 15 – 30°C. Để kích thích ra hoa, cần có sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm (đêm mát khoảng 12-14°C). Tránh nhiệt độ quá cao (>35°C) hoặc quá thấp (<5°C).
  • Bón phân loãng thường xuyên trong mùa sinh trưởng. Ưu tiên phân bón lá (như KH2PO4) hoặc phân lỏng cân đối dành cho lan. Có thể dùng phân hữu cơ đã hoai mục. Giảm hoặc ngừng bón vào mùa nghỉ (khô lạnh).
  • Thay chậu định kỳ 2 – 3 năm/lần vào đầu hoặc cuối mùa mưa. Dùng chậu sâu, thoát nước tốt và giá thể thoáng khí phù hợp cho lan.

Một số vấn đề thường gặp

  • Nụ hoặc hoa rụng là do thiếu phốt pho nên cần bổ sung kali monophotphat.
  • Củ giả hành co lại và héo, xuất hiện các đốm nâu trên cánh hoa là do bị bệnh thối xám, nguyên nhân là tưới nước quá nhiều.
  • Cây không nở hoa, mầm nhỏ là hiện tượng virus khảm thuốc lá.
  • Lá nhạt do thừa ánh sáng.
  • Lá chuyển sang màu vàng do nhiệt độ cao và không khí khô.
  • Lá quăn lại do lạnh và thiếu vi chất dinh dưỡng.
  • Đốm đen trên lá xuất hiện là do cháy nắng hoặc đất bị úng.
loại bỏ các giả hành cũ trên thân rễ khi trồng lại cây
loại bỏ các giả hành cũ trên thân rễ khi trồng lại cây

2. Kiểm soát sâu bệnh

Lan Kiếm có thể bị bệnh thối trắng gốc (do nấm Sclerotium khi ẩm ướt), bệnh thán thư (đốm nâu đen từ chóp lá lan xuống khi nóng ẩm), và rệp sáp (“rận lan”, khi nóng ẩm, kém thoáng). Phòng trừ chủ yếu bằng cách cải thiện điều kiện trồng (thoáng gió, thoát nước tốt), vệ sinh vườn, loại bỏ cây/lá bệnh. Khi cần, phun thuốc trừ nấm (Bordeaux, Thiophanate-methyl…) hoặc trừ sâu (dầu khoáng, xà phòng, hoặc hóa chất được phép) theo hướng dẫn và quy định an toàn.

IV. Phương pháp nhân giống

1. Phân chia

Bạn có thể nhân giống lan kiếm bằng cách phân chia cây vào mùa xuân và mùa thu, cây cũng nên được chia nhỏ 3 năm một lần. Sau khi phân chia, mỗi cụm phải có ít nhất 5 củ giả hành liền nhau, sau đó áp dụng công thức trồng lan như ở trên và tưới nước thật kỹ (tưới đến khi có nươc chảy dưới đáy chậu), để trong bóng râm khoảng 10 – 15 ngày. Giữ đất ẩm và tưới nước ít dần.

nhân-giống-lan-kiếm-bằng-cách-phân-chia-cây
nhân-giống-lan-kiếm-bằng-cách-phân-chia-cây

2. Gieo hạt

Hạt lan mịn, bên trong hạt chỉ có phôi chưa hoàn chỉnh, khả năng nảy mầm rất thấp, hơn nữa vỏ hạt không dễ hút nước nên gieo hạt thường rất khó nảy mầm, vì vậy cần có môi trường nuôi cấy nhân tạo. Nếu bạn muốn thử thì tốt nhất nên dùng những quả chưa nứt vỏ để gieo hạt, sau khi khử trùng hạt bằng cồn 75% thì lấy ra ngâm trong dung dịch natri hypoclorit 10% 5 – 10 phút, rửa sạch bằng nước cất 3 lần trước khi gieo. Đặt bầu ươm vào nơi tối, giữ nhiệt độ khoảng 25°C. Nếu hạt nảy mầm thì đưa ra nơi có ánh sáng nhẹ. Từ khi gieo đến khi nảy mầm phải mất nửa năm đến một năm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.