Hoa hướng dương: Đặc điểm, ý nghĩa, giá, cách trồng & chăm sóc

Hoa-hướng-dương-Đặc-điểm,-ý-nghĩa,-giá,-cách-trồng-&-chăm-sóc

Hướng dương có tên khoa học là Helianthus annuus thuộc chi Helianthus trong họ Asteraceae, một loại cây thân thảo cao có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, được người Tây Ban Nha mang đến châu Âu vào năm 1510. Vào cuối thế kỷ 19, nó được đưa trở lại Bắc Mỹ từ Nga. Hạt thường được rang và ăn như đồ ăn nhẹ, rất ngon, dầu cũng có thể được chiết xuất làm thực phẩm, cặn dầu có thể làm thức ăn chăn nuôi.

Thông tin chung

Một quan điểm cho rằng trong cây có 1 chất gọi là auxin và số lượng của chúng quyết định sự phát triển và phân chia của tế bào thực vật, còn ánh sáng ảnh hưởng đến sự phân bố của auxin. Sở dĩ hoa hướng dương có thể quay về phía mặt trời là do dưới ánh nắng mặt trời, hàm lượng auxin của hoa tăng lên, kích thích các tế bào dài ra và quay từ từ về phía mặt trời. Sau khi mặt trời lặn, auxin được phân phối lại và hoa  từ từ quay trở lại vị trí ban đầu là hướng Đông. Thực tế không phải lúc nào hoa cũng đi theo mặt trời, sau khi hoa nở hoàn toàn thì cơ bản nó sẽ đứng yên và cố định nhìn về hướng Đông, thông tin này đã được chứng minh vào năm 1597 bởi John Gerard, một nhà thực vật học người Anh, đã quan sát hoa trong nhiều ngày.

Có lẽ tuổi của loài cây này được xác định là 2 – 3 thiên niên kỷ trước, dựa trên những hạt giống được tìm thấy trong các cuộc khai quật. Một số chuyên gia cho rằng hướng dương được trồng sớm hơn lúa mì. “Hoa của mặt trời” là cách mà người Mexico cổ, coi loài cây này là linh thiêng là biểu tượng của thần Mặt trời. Người Ấn Độ cổ cung đã tiêu thụ dầu hướng dương và chiết xuất thuốc nhuộm màu tím từ cây. Vào đầu thế kỷ 16, hoa hướng dương đến châu Âu, xuất hiện trong các vườn bách thảo ở Tây Ban Nha. Ở Đức, hướng dương thay thế cà phê. Năm 1716, bằng sáng chế đã được cấp cho việc sản xuất dầu hướng dương.

Hướng dương được trồng ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi và Úc. Diện tích gieo trồng trên thế giới năm 2019 (dữ liệu của FAO) lên tới 26.64 triệu ha và 53.48 triệu tấn hạt giống được sản xuất. Nước sản xuất chính: Nga – 15; Ukraina – 14.8; Argentina – 3.8. Năng suất bình quân khoảng 1.9 tấn/ha. Hướng dương được khắc họa trên quốc huy của bang Kansas (Mỹ), xã Oragne (Pháp), xã Glen Montague (Pháp); ở Nga – trên quốc huy của quận Yeisk của vùng Krasnodar, thành phố Zarechny của vùng Sverdlovsk, quận Uritsky của vùng Oryol, quận Shimanovsky của vùng Amur.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Chi Helianthus bao gồm 52 loài và nhiều phân loài, tất cả đều có nguồn gốc ở Bắc Mỹ, nhưng nhiều loài hiện đã được du nhập và trồng trên khắp thế giới làm thực phẩm hoặc hoa cắt cành.

  • Rễ có rễ cái, rễ bên và rễ dạng sợi. Rễ chính ăn sâu vào đất 1 -2m, rễ bên mọc từ rễ chính và mọc ngang, nhiều rễ xơ, khoảng 60% hệ thống rễ nằm ở lớp đất 0 – 40 cm. Tốc độ sinh trưởng của rễ bao giờ cũng nhanh hơn thân, rễ phát triển nhanh nhất trước và sau khi hình thành hoa, khi hạt chín thì rễ ngừng phát triển rồi héo dần.
  • Thân cây thẳng đứng, dày, tròn, phủ đầy lông màu trắng, cành hoa không vươn ra để đỡ những bông hoa khác mà chỉ đỡ một bông hoa duy nhất. Thân cây có thể cao tới 3 – 5 mét, cấu trúc thân hai lá mầm. Thân cây bao gồm vỏ, xylem và lõi xốp cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho cây. Qua nhiều năm, thân cây trở nên gỗ hóa và phần lõi bên trong rỗng dần. Tốc độ sinh trưởng của thân nhanh nhất ​​khi nảy chồi đến ra hoa, khi chiều cao thân đạt khoảng 55% chiều cao tối đa thì tốc độ sinh trưởng chậm lại.
  • Lá được chia thành lá mầm và lá thật, có một cặp lá mầm, lá thật mọc đối nhau ở đốt 1 – đốt 3 phần dưới thân và mọc xen kẽ ở phía trên. Lá mầm có màu tím, dài 3 – 8 cm và chiều rộng 2.5 – 3mm, lá có hình trứng ngược và mọc trên cuống lá dài 5 – 6 mm. Lá thật có hình trái tim hoặc hình trứng, cuống lá dài, mép lá có răng cưa, chiều dài của lá 25 – 35 cm, lá có 3 gân dọc. Số lượng lá tùy theo giống, giống chín sớm thường có 25 – 32 lá, giống chín muộn có 33 – 40 lá. Các lá dưới tạo ra chất dinh dưỡng phát triển rễ, dinh dưỡng do lá giữa và lá trên tạo ra chủ yếu được cấp cho hoa để thúc đẩy quá trình tạo hạt.
  • Cụm hoa có đường kính lên tới 20 – 40 cm, cánh hoa màu vàng tươi dài 4 – 6 cm; hoa ở giữa rất nhiều (500-1000 chiếc), lưỡng tính, phồng lên ở gốc. 5 nhị hoa, bao phấn màu đen hợp nhất thành một ống và các sợi ngắn, nhụy hoa có bầu nhụy đơn thùy phía dưới và 2 nhụy cong ra ngoài. Hoa mọc trên ngọn và có 3 loại: lồi, phẳng và lõm. Trên đĩa hoa có 2 loại là hoa hình tia và hoa hình ống. Màu sắc và kích thước của hoa khác nhau tùy theo giống, có giống màu cam, vàng nhạt, tím.
  • Quả hướng dương chính là hạt/ Hạt ăn được dài hơn, trên vỏ có sọc đen trắng, vỏ dày chiếm 40% trọng lượng hạt, trọng lượng 1000 hạt là 100 – 200g. Hạt chứa 38 – 42% dầu, chứa lượng lớn vitamin E và 38% protein.
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-hoa-hướng-dương
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-hoa-hướng-dương

2. Đặc điểm sinh trưởng

Đây là loại cây ưa ẩm, chịu lạnh (xuống tới -3°C). Hạt nảy mầm ở nhiệt độ tối thiểu 6°C, độ sâu hạt tối đa là 25 cm. Tỷ lệ nảy mầm của hạt mới chín không quá 0.5%, khả năng tồn tại lên đến 4 năm.

Có thể trồng hướng dương vào tất cả các mùa, chủ yếu vào mùa hè và mùa đông, thời gian ra hoa có thể kéo dài hơn 2 tuần. Hoa hình tròn, to, thích hợp làm cây cảnh trang trí sân vườn, hạt có giá trị kinh tế cao, không chỉ ăn được mà còn có thể chiết xuất dầu ăn với lượng cholesterol thấp. Các giống làm cây cảnh thường có đặc điểm là cây ngắn, thường không quá 0.5m nên thích hợp trồng trong chậu, loài này pphát triển rất nhanh, thường nở hoa sau 2 tháng trồng.

  • Khả năng chịu mặn cao, cây con có thể phát triển bình thường khi hàm lượng muối trong đất là 0.4%. Thân cây chứa khoảng 0.5% natri clorua (NaCl).
  • Khả năng chịu hạn rất tốt. Theo khảo nghiệm, sau gần 40 ngày hạn hán trước và sau khi ra hoa, độ ẩm đất ở các độ sâu 0 – 20 cm, 20 – 40 cm và 40 – 60 cm lần lượt là 8.8%, 15.12% và 19.6% cho thấy cây vẫn phát triển. Lý do là hệ thống rễ phát triển tốt, ăn sâu vào đất, có thể hút nước ở tầng đất sâu, hai là do thân cây chứa nhiều mủ như bọt biển có thể tích trữ nhiều nước và thứ ba là cây có nhiều lông cứng làm giảm thoát hơi nước.

Ngoài ra, nó còn có khả năng chống ngập úng rất tốt. Nếu trồng ở trạng thái ngập nước (50 cm nước trên mặt đất) trong 40 ngày thì hơn 90% cây không chết, cũng do rễ và thân có các mô thông gió tốt và có khả năng ra rễ mới, khả năng phát triển rễ mới trong 5 ngày tương đương với 21% tổng khối lượng rễ.

3. Các loài tương tự

 

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

Hạt chứa dầu béo (lên tới 38%), bao gồm các glyceride của axit palmitic, stearic, arachidic, lignoceric, oleic và linoleic; carotenoid; protein (13.5 – 19.1%), carbohydrate (23.9 – 26.55%), phytin (lên đến 2.05%), tannin (lên đến 1.48%), axit chlorogen (lên đến 1.75 %), axit citric và tartaric; cụm hoa và thân – axit solantic; hoa và lá rìa – axit solantic, betaine, choline, arnidiol, faradiol, quercimeritrin, cyanidin monoglycoside, taraxanthin, carotene và cryptoxanthin; lá – carotene (lên đến 11 mg%) và các chất nhựa (lên đến 3%).

  • Hạt, đĩa hoa, lõi thân, lá, hoa, rễ,… đều có thể dùng làm thuốc. Hạt có vị ngọt dịu có tác dụng xua đuổi côn trùng, trị kiết lỵ,  hạ lipid máu. Trà hoa hướng dương có tác dụng thanh nhiệt, tiêu đờm, cầm máu và trị đau đầu, chóng mặt. Nước sắc thân cây giúp lợi tiểu và chống viêm. Lá và cánh hoa giúp thanh nhiệt, giải độc và cũng có thể dùng làm thuốc bổ. Nước sắc từ rễ có thể chữa các bệnh như đi tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt.
  • Dầu hướng dương chứa 70% axit linoleic, giàu vitamin E và carotene, có điểm nóng chảy thấp và có thể tan chảy ở 17 – 27°C. Tác dụng dược lý của dầu giúp điều chỉnh quá trình chuyển hóa cholesterol trong cơ thể con người và làm giảm sự lắng đọng của nó trong thành mạch máu. Việc thiếu dầu thực vật trong chế độ ăn uống sẽ dẫn đến cơ thể bị lão hóa sớm. Dầu hướng dương chưa tinh chế chứa lượng vitamin A, F và D lớn nhất. Vitamin E trong dầu hướng dương ngăn ngừa những thay đổi liên quan đến tuổi tác và kích thích sản xuất hormone tuyến giáp. Vitamin F cải thiện tình trạng thành mạch máu, thúc đẩy tiêu thụ protein hợp lý, lượng vitamin vừa đủ ngăn ngừa sự phát triển của xơ vữa động mạch, giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và các bệnh khác của hệ tim mạch. Lượng vitamin D vừa đủ trong hạt sẽ bù đắp cho việc thiếu ánh nắng, đặc biệt là vào mùa đông. Tocopherol đảm bảo quá trình đông máu tốt, cải thiện vi tuần hoàn máu, cần thiết cho quá trình tái tạo mô và củng cố thành mao mạch.

Sau vụ rò rỉ hạt nhân tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản, chính phủ Nhật Bản tuyên bố khu vực 20 km xung quanh nhà máy điện hạt nhân sẽ là vùng cấm vì cường độ bức xạ phóng xạ vượt quá tiêu chuẩn hơn 1.000 lần, iốt-131 và Caesium-137 là hai chất phóng xạ phổ biến nhất. Chu kỳ bán rã của iốt-131 là 8.3 ngày nhưng của Caesium-137 là 30 năm. Nồng độ iốt-131 có thể được chuyển hóa dần dần trong môi trường tự nhiên, còn Caesium-137 sẽ lắng đọng trong đất nhiều năm, gây hại cho động thực vật. Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra biện pháp là trồng hoa hướng dương, khi nó bén rễ trong đất và sử dụng rễ để hấp thụ chất dinh dưỡng, đó cũng là một quá trình chiết xuất, phân hủy, lọc, cố định hoặc làm bay hơi các chất ô nhiễm có hại.

Tác-dụng-&-ý-nghĩa-của-hoa-hướng-dương
Tác-dụng-&-ý-nghĩa-của-hoa-hướng-dương

2. Ý nghĩa của hoa

Ý nghĩa của hoa hướng dương là niềm tin, lòng trung thành và dũng cảm theo đuổi hạnh phúc của riêng mình.

Truyền thuyết kể rằng Kelitai (Curita) là một nàng tiên nước. Một ngày nọ, cô gặp thần mặt trời Apollo đang đi săn trong rừng và bị vị thần này mê hoặc, tuy nhiên, Apollo rời đi mà không hề nhìn cô. Cô háo hức hy vọng một ngày nào đó Apollo có thể nói chuyện với cô, nhưng cô không bao giờ gặp lại anh nữa. Vì thế cô chỉ có thể theo dõi hành trình của Apollo cho đến khi anh xuống núi. Ngày nào cô cũng ngồi như thế, tóc bù xù, khuôn mặt hốc hác. Sau này, các vị thần đã thương xót cô và biến cô thành một bông hoa hướng dương vàng. Khuôn mặt cô biến thành một bông hoa, luôn hướng về phía mặt trờ mỗi ngày để thể hiện một tình yêu thầm lặng.

Do đó nếu tặng hoa cho người khác là để thể hiện sự ngưỡng mộ họ, cho thấy rằng họ là mặt trời không bao giờ lặn trong trái tim bạn và là thiên thần sẽ luôn bảo vệ bạn.

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-hoa-hướng-dương
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-hoa-hướng-dương

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc hoa

Có thể trồng vào bất kỳ thời điểm nào trong năm, chủ yếu vào mùa hè (tháng 3 – 4) và mùa đông, trồng chủ yếu bằng cách gieo hạt, sau khoảng 7 ngày thì cây con dần xuất hiện. Nhiệt độ thích hợp nhất là khoảng 21 – 26°C.

  • Tỷ lệ mắc bệnh và côn trùng gây hại thấp, chủ yếu là bệnh phấn trắng, đốm đen, đốm lá, gỉ sắt (phổ biến trong thời kỳ có độ ẩm cao) và thối thân. Việc phòng ngừa có thể được thực hiện bằng cách khử trùng đất, tưới nước đúng cách, tăng cường lưu thông không khí và phun thuốc diệt nấm. Nếu bị bệnh thì cắt bỏ lá và cây bị bệnh đem đốt, kết hợp phun metyl thiophanate 50% tỷ lệ 1:500 lần nước.
  • Các loài gây hại bao gồm rệp, bọ xít, nhện đỏ, có thể phun 40% dimethoate EC tỷ lệ 1:1000 lần nước hoặc 73% Methate EC 1:1500 lần nước để diệt trừ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.