Hoa hạnh phúc hay riềng tía, tên khoa học của nó là Alpinia purpurata, một loài thực vật thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Trong tự nhiên, nó được tìm thấy ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, cũng như một số đảo ở Thái Bình Dương. Tên Alpinia được đặt tên để vinh danh Prosper Alpino, một nhà tự nhiên học, nhà thám hiểm và du khách gốc Ý.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Đây là cây thân thảo sống lâu năm, thường xanh, có nguồn gốc từ các đảo Thái Bình Dương (như Solomon, New Britain…). Cây phát triển từ thân rễ ngầm mập mạp, có đốt, mọc bò ngang. Từ thân rễ mọc lên các thân giả thẳng đứng do các bẹ lá ôm chặt lấy nhau tạo thành. Cây mọc thành cụm dày, cao 2 – 5 mét (trong điều kiện tối ưu có thể tới 7 mét).

  • đơn, mọc cách, xếp thành hai hàng dọc theo thân giả. Lá không có cuống. Phần gốc lá là bẹ lá dài ôm lấy thân giả, mép trên của bẹ lá có lông ngắn. Tại điểm nối giữa bẹ lá và phiến lá có lưỡi bẹ rõ ràng, dài 7 – 22 mm, đỉnh chia 2 thùy không đều, có lông ngắn. Phiến lá lớn, hình thuôn dài – mác, dài 30 – 70 cm, rộng 10 – 22 cm, màu xanh lục tươi, nhẵn bóng cả hai mặt, đầu lá nhọn dần.
  • Cụm hoa dạng bông (spike) mọc ở đỉnh của thân giả, hình trụ, dài 15 – 30 cm (có thể dài hơn khi già), thường mọc thẳng đứng, không phân nhánh. Trục cụm hoa nhẵn hoặc có lông ngắn. Điểm nổi bật nhất và có giá trị làm cảnh chính là các lá bắc lớn, bền, xếp chồng lên nhau dày đặc như vảy nến hoặc quả thông:
    • Lá bắc: Hình bầu dục hoặc bầu dục rộng, dài 2.5 – 3 cm, đỉnh có mũi nhọn. Lá bắc có màu đỏ tươi rực rỡ rất bắt mắt (một số giống trồng có màu hồng hoặc trắng), bề mặt bóng.
    • Hoa thật: Nằm ẩn bên trong nách của mỗi lá bắc màu đỏ, thường có 1-2 hoa. Hoa thật rất nhỏ, màu trắng, có cấu trúc phức tạp đặc trưng của họ Gừng (bao gồm đài hoa hình ống màu đỏ, tràng hoa màu trắng chia 3 thùy, nhị lép, cánh môi…), thường không bền và ít được chú ý bằng các lá bắc màu đỏ.
  • Quả & Hạt: Quả là quả nang, hình cầu, đường kính 2 – 3 cm, có thể có chất thịt bao ngoài, khi chín nứt không đều. Bên trong chứa nhiều hạt nhỏ (~3mm), góc cạnh, có thể có áo hạt (aril).

Cây con trên hoa: Trên các cụm hoa già (sau khi hoa thật đã tàn), tại nách các lá bắc thường nảy mầm thành các cây con nhỏ hoàn chỉnh, có thể dùng để nhân giống. Ở vùng khí hậu nhiệt đới như Việt Nam, cây có thể ra hoa gần như quanh năm, nhưng thường rộ nhất vào mùa hè và mùa thu.

Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-riềng-tía-(hoa-hạnh-phúc)
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-riềng-tía-(hoa-hạnh-phúc)

2. Đặc điểm sinh trưởng

Riềng tía có nguồn gốc từ các đảo Thái Bình Dương (như Bismarck, Solomon, Vanuatu…) và thường mọc trong các quần xã sinh vật nhiệt đới ẩm ướt. Hiện nay, cây được trồng rộng rãi làm cảnh ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, bao gồm cả Việt Nam. Cây ưa nắng đầy đủ hoặc bóng râm một phần. Để cây ra hoa nhiều và màu sắc đẹp nhất, nên trồng ở nơi có nhiều nắng, nhiệt độ cao và ấm áp, tối ưu trong khoảng 25 – 28°C. Cây không chịu được lạnh, nhiệt độ mùa đông không nên xuống dưới 10°C để tránh tổn thương.

Cây trồng từ hạt cần 3 – 4 năm mới bắt đầu ra hoa. Hoa nở chủ yếu vào mùa hè thu hoặc gần như quanh năm ở vùng nhiệt đới. Cụm hoa khá bền (khoảng 15 ngày).

3. Các loài tương tự

  • Alpinia vittata là một trong những loài phổ biến và nhỏ nhất vì ngay cả trong tự nhiên, chiều cao chỉ giới hạn 80 cm. Lá dài tới 15 cm, hẹp và có màu xanh đậm xen kẽ các sọc trắng.
  • Alpinia zerumbet có thân cao, lá hình mũi mác, hoa màu kem và có hình chuông dài rũ xuống với môi màu vàng hồng.
  • Alpinia mutica có lá hình ngọn giáo hẹp, dài 50cm, màu sẫm. Hoa màu trắng với môi hoa rộng có đốm vàng – cam – đỏ rất độc đáo.

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

Rễ củ của cây riềng tía có mùi khá hăng nên nó được sử dụng trong nấu ăn như một loại gia vị. Thân rễ chứa tinh dầu (0,6-1%) bao gồm sesquiterpenoid, cineole và eugenol, ngoài ra còn có tannin và flavonoid. Nó là nguyên liệu được sử dụng trong sản xuất đồ uống có cồn. Trung bình cứ 100g thân rễ chứa 7.1mg protein, 2.8mg chất béo, 83.0mg tổng lượng carbohydrate, 22.0mg chất xơ, 0.35mg thiamine, 0.14mg riboflavin, 7.09mg niacin và 184mg axit ascorbic…

Trong Đông y, hạt được dùng để chữa bệnh sốt rét, dịch tả, khó tiêu, ợ chua, đau răng. Thân rễ được kê toa làm thuốc chữa dạ dày, viêm ruột mãn tính (viêm ruột non), đau dạ dày, ngăn ngừa tái phát các bệnh mãn tính của cơ quan nội tạng, tăng tiết nước bọt. Nhiều khi nó còn được sử dụng để điều trị tình trạng chán ăn, rối loạn kinh nguyệt, đau đầu kèm theo ngất xỉu, suy nhược và say sóng.

2. Ý nghĩa

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc cây

Yêu cầu đất sâu, màu mỡ, giàu mùn, giữ ẩm tốt nhưng vẫn thoát nước tốt. Độ pH đất từ hơi chua đến trung tính (6.1 – 7.5) là phù hợp, có thể bao gồm đất vườn – mùn lá – cát tỷ lệ bằng nhau, không nên trồng trong đất than bùn. Nếu trồng trong vườn cày xới đất sâu 30 cm. Cải tạo đất bằng vôi, thêm phân chuồng, vỏ trấu. Nếu đất trồng là đất sét, hãy trộn thêm cát và san phẳng mặt đất. Sau đó, đào rãnh sâu 20 cm tạo luống rộng 1.5 mét. Đào hố trồng sâu bằng miệng bầu cây giống. Khoảng cách giữa các hàng là 120 cm, khoảng cách giữa các cây là 100 cm. Sau khi trồng xong, cần chăm sóc 6 – 8 tháng thì cây bắt đầu cho thu hoạch.

  • Ánh sáng tự nhiên tốt nhất là 50 – 70% (cường độ và thời gian). Nhiệt độ lý tưởng nhất là 20 – 25°C.
  • Không cần thiết phải bón nhiều phân hóa học, vì hiệu quả kinh tế của việc bón phân hóa học đối với năng suất là không cao. Tuy nhiên, bón phân công thức có tỷ lệ 1:1:1 (N:P:K) 2 lần/năm, mỗi lần 50 kg/ha. Bón kết hợp với phân chuồng sẽ giúp riềng Là cây cần độ ẩm đất cao nên cần phải tưới nước đầy đủ. Phương pháp tưới có thể là tưới tràn cho luống trồng, tưới 3 – 5 ngày/lần.
  • Hầu như việc cắt tỉa cây sẽ được thực hiện đồng thời với việc cắt hoa, bằng cách cắt hoa sát gốc cây, cách mặt đất khoảng 5 – 7.5 cm).

IV. Phương pháp nhân giống

Gieo hạt: Có thể thực hiện ở vùng ấm áp nhưng ít phổ biến hơn do hạt có thể khó thu hoạch, tỉ lệ nảy mầm không cao, hạt mất sức nảy mầm nhanh nếu bảo quản lâu và cây con cần 3 – 4 năm mới có thể ra hoa. Nếu gieo, nên gieo hạt tươi ngay sau khi thu hoạch. Có thể ngâm hạt trước khi gieo. Gieo vào giá thể ẩm, tơi xốp (như mùn lá pha cát) ở nhiệt độ ấm (22 – 25°C). Hạt nảy mầm sau một thời gian khá dài.

nhân-giống-hạnh-phúc-bằng-cách-gieo-hạt
nhân-giống-hạnh-phúc-bằng-cách-gieo-hạt

Tách bụi / Chia thân rễ: Đây là phương pháp nhân giống phổ biến nhất đối với cây riềng tía trưởng thành. Thực hiện tốt nhất vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 5) khi thân rễ bắt đầu nảy mầm. Đào cả bụi cây mẹ lên, dùng dao sắc chia tách các phần thân rễ, đảm bảo mỗi phần tách ra phải có ít nhất một mắt ngủ hoặc chồi đỉnh và có rễ kèm theo. Trồng các phần đã tách vào chậu hoặc đất mới. Lưu ý quan trọng: Sau khi trồng, không tưới nước ngay mà chỉ giữ cho đất hơi ẩm trong vài ngày đầu để tránh thối thân rễ. Khi cây đã bén rễ và bắt đầu mọc chồi mới thì mới tưới nước bình thường. Thường thực hiện việc tách bụi này mỗi 2 năm một lần.

phương-pháp-nhân-giống-bằng-cách-chia-cây
phương-pháp-nhân-giống-bằng-cách-chia-cây

Nhân giống bằng cây con trên hoa (Chồi khí): Đây là phương pháp rất hiệu quả và đặc trưng của riềng tía. Khi cụm hoa già đi (sau khi hoa thật đã tàn), các cây con nhỏ (chồi khí) sẽ mọc ra từ nách của các lá bắc màu đỏ trên cụm hoa. Có thể tách các cây con này ra khỏi cụm hoa và trồng trực tiếp vào đất ẩm. Để tăng tỷ lệ thành công, có thể giâm các cây con này vào giá thể ẩm cho ra rễ ổn định trước khi trồng (rễ thường ra sau 4 – 8 tuần).

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.