Hoa hải đường có tên khoa học Camellia amplexicaulis, tên chi Camellia được đặt để tưởng nhớ George Joseph Kamel (1661-1706), một tu sĩ Dòng Tên người Séc. Ông đã từng đến đảo Luzon, Philippines để thu thập và nghiên cứu thực vật, và công bố báo cáo về các loài thực vật ở Philippines vào năm 1704. Tính từ amplexicaulis có nghĩa là ‘có cuống ôm’, mô tả phần đáy lá và cuống lá có phần tai lồi ra giống như đang ôm lấy thân cây, vì thế người Trung Quốc còn gọi là ‘Trà ôm thân Việt Nam’.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Hải đường (tên khoa học Camellia amplexicaulis, đôi khi được gọi là Trà mi Kaido hoặc Hải đường Việt Nam), là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ thường xanh, thuộc họ Chè (Theaceae), có nguồn gốc từ Việt Nam. Cây thường cao 1-3 mét (có thể đạt tới 7 mét trong điều kiện tối ưu). Cành non nhẵn, màu nâu hoặc tím nâu. Vỏ thân cây già có màu nâu xám.

  • đơn, mọc cách. Cuống lá rất ngắn (chỉ 3 – 5 mm). Phiến lá lớn, hình elip hoặc thuôn dài-elip, dài 15 – 25 cm, rộng 6 – 11 cm. Chất lá dày, cứng như da. Đầu lá tù rồi nhọn đột ngột, gốc lá có hai tai tròn đặc trưng ôm chặt lấy thân, đây là một đặc điểm nhận dạng quan trọng. Mép lá có răng cưa sắc và đều đặn, trông giống như răng lược. Cả hai mặt lá đều nhẵn, không có lông. Hệ gân lá lông chim, các gân phụ hơi lõm ở mặt trên và nổi rõ ở mặt dưới.
  • Hoa thường mọc đơn độc hoặc thành cụm nhỏ (2 – 3 bông) ở đầu cành hoặc nách lá phía ngọn. Hoa rất lớn, đường kính có thể đạt 4 – 7 cm. Cuống hoa mập mạp, dài 1 – 1.2 cm, không có lông.
    • Lá bắc con & Đài hoa: Dưới mỗi hoa có 6 – 7 lá bắc con nhỏ, tồn tại dai, hình dáng đa dạng (lưỡi liềm, tròn, trứng…), không lông. Đài hoa gồm 5 lá đài chất da, hình trứng hoặc gần tròn, dài 7 – 11mm, mặt ngoài nhẵn, mặt trong có lông tơ mịn.
    • Cánh hoa: Có 8 – 13 (đôi khi tới 15) cánh hoa. Các cánh hoa hơi dính liền với nhau ở phần gốc. Màu sắc hoa thường là đỏ hoặc hồng tím đậm. Cánh hoa hình trứng ngược hoặc trứng ngược rộng, dài 2.4 – 4 cm, rộng 2 – 3 cm, đặc biệt là chất thịt, dày mọng. Đỉnh cánh hoa tròn, đôi khi hơi lõm vào.
    • Bộ nhị: Nhị nhiều, tổng chiều dài khoảng 3 – 3.2 cm. Đặc điểm nổi bật là các chỉ nhị ở vòng ngoài dính liền với nhau khoảng 2.2 cm tạo thành một ống trụ bằng thịt, có phủ lông tơ mịn. Phần chỉ nhị tự do phía trên thì nhẵn.
    • Bộ nhụy: Bầu nhụy thượng, không lông, hình trứng, có 3 ô. Có 3 vòi nhụy thường rời nhau (hoặc chỉ dính nhẹ ở gốc?), dài khoảng 2.5 cm (gần bằng chiều dài nhị), không có lông.
  • Quả là quả nang, hình cầu, có 3 đường rãnh dọc nổi rõ trên vỏ quả. Vỏ quả dày (khoảng 5mm).

Cây ra hoa kéo dài từ mùa thu đến mùa xuân năm sau (thường là tháng 10 đến tháng 4). Quả hình thành và chín vào mùa thu đông.

Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-hải-đường
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-hải-đường

2. Đặc điểm sinh trưởng

Nguồn gốc là Việt Nam nhưng nó không thích ánh nắng gắt của mùa hè, không chịu được lạnh, có thể trồng trong nhà, tuy nhiên cần chú ý thông gió tốt và duy trì độ ẩm cao. Cần hạn chế cắt tỉa nhiều, về cơ bản đây không phải là một loại hoa trà khó chăm sóc.

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

Hải đường có chu kỳ ra hoa kéo dài. Đợt hoa đầu tiên thường xuất hiện vào khoảng Tết Nguyên Đán và sau đợt này, cây tiếp tục ra chồi mới và hình thành nụ cho đợt hoa tiếp theo vào cuối hè, đầu thu. Nhờ chu kỳ ra hoa đặc biệt này, nó gần như khoe sắc quanh năm, trở thành nguồn gen quý giá trong việc lai tạo và cải thiện các giống hoa trà.

2. Ý nghĩa

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc cây

Trồng cây tốt nhất vào mùa xuân hoặc đầu hè (ví dụ: tháng 1 – 3 hoặc sau các đợt mưa lớn). Chọn nơi có ánh nắng mặt trời đầy đủ, đất thoát nước tốt, có thể là đất dốc thoai thoải hoặc đất bằng.

Đất trồng cần có tính axit, màu mỡ, tơi xốp và giàu hữu cơ. Khi trồng ngoài vườn, chuẩn bị hố trồng lớn (ví dụ: 60cm x 60cm x 50-60cm), khoảng cách giữa các cây khoảng 2m x 2m. Bón lót phân hữu cơ hoai mục hoặc phân chuyên dụng cho trà/hoa trước khi trồng. Khi trồng cây non từ bầu ươm, cần xé bỏ vỏ bầu cẩn thận, đặt cây vào hố, lấp đất và nén nhẹ cho rễ tiếp xúc tốt với đất, tưới đẫm nước. Đối với cây trồng chậu, ưu tiên giá thể tơi xốp, thoát nước tốt, có tính axit (ví dụ: hỗn hợp xơ dừa, rêu than bùn, đá perlite, đá vermiculite…).

  • Cây ưa nắng đầy đủ. Cây non mới trồng có thể cần che bóng nhẹ. Ưa khí hậu ấm áp, không chịu được rét đậm kéo dài hoặc mưa tuyết. Cần bảo vệ cây con khỏi sương giá.
  • Cây non trồng chậu cần tưới nước 1-2 lần/ngày tùy thuộc vào thời tiết, tránh để cây bị úng nước. Cây trưởng thành trồng ngoài đất có khả năng chịu hạn tốt hơn nhưng vẫn cần tưới đủ ẩm, nhất là vào mùa khô. Sau các trận mưa lớn cần kiểm tra và đảm bảo thoát nước tốt.
  • Sau khi bón lót lúc trồng, từ năm thứ hai trở đi, có thể bón thúc 2 lần/năm (thường vào tháng 2 – 3 và tháng 7 – 8) bằng phân NPK cân đối. Đối với cây con trồng chậu, có thể dùng phân bón lá hoặc phân nước pha loãng tưới 1-2 lần/tháng. Tránh dùng các loại phân bón có chứa Clo và không bón phân đạm dạng hạt quá gần rễ cây con vì dễ gây cháy rễ.
  • Bắt đầu cắt tỉa tạo hình từ năm thứ hai hoặc thứ ba. Thường hướng cây phát triển theo dạng một thân chính. Loại bỏ các cành cạnh tranh với thân chính, cành yếu, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn hoặc các chồi mọc từ gốc thân. Ở những nơi có gió mạnh, cây non có thể cần cọc đỡ để tránh bị nghiêng đổ.

Bệnh chính có thể gặp là bệnh thán thư. Khi phát hiện, cần loại bỏ triệt để các cành lá bị bệnh. Để phòng ngừa, trước mỗi mùa bệnh (thường là mùa mưa ẩm) có thể phun dung dịch Bordeaux 1% (2 tuần/lần) hoặc các loại thuốc trừ nấm như Carbendazim (pha tỷ lệ 1:600 nước), mỗi tuần một lần, phun liên tục 3-4 lần.

IV. Phương pháp nhân giống

Hải đường (và các loài Trà mi nói chung) chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp gieo hạt hoặc ghép cành.

1. Gieo hạt

Thu hoạch hạt từ quả đã chín vào tháng 7 – 8. Hạt trưởng thành cần được xử lý phân tầng trong cát ẩm để kích thích nảy mầm (tỷ lệ nảy mầm có thể đạt trên 80%).

  1. Gieo hạt đã nảy mầm (sau xử lý) vào các bầu ươm hoặc túi bầu (kích thước bầu cho cây 1 năm tuổi nên dùng loại 12cm x 14cm hoặc lớn hơn một chút). Đặt hạt nông và tưới đẫm nước. Đất trồng cây con cần có tính axit, tơi xốp và thoát nước tốt (ví dụ: hỗn hợp cát sông : xơ dừa theo tỷ lệ 2:1).
  2. Cây con trong giai đoạn vườn ươm sinh trưởng khá nhanh. Cần che bóng thích hợp (khoảng 50%), tránh ánh nắng trực tiếp quá gắt. Bảo vệ cây con khỏi sương giá (nếu nhiệt độ xuống gần 0°C, nên che phủ bằng màng nilon). Tưới nước 1 – 2 lần/ngày tùy thuộc vào thời tiết và độ ẩm của đất, tránh tưới quá nhiều gây úng nước. Bón phân lỏng định kỳ 1 – 2 lần/tháng. Tránh sử dụng các loại phân bón có chứa Clo. Nếu dùng phân urê dạng hạt, cần cẩn thận không để phân tiếp xúc trực tiếp hoặc quá gần rễ vì dễ gây cháy rễ làm chết cây.
  3. Cây con sau 2 năm chăm sóc (chiều cao khoảng 56cm, đường kính gốc trên 0.8cm) có thể đủ tiêu chuẩn để xuất vườn hoặc trồng ra vị trí cố định.

2. Ghép

Là phương pháp nhân giống phổ biến, đặc biệt để duy trì đặc tính của các giống tốt hoặc nhân nhanh số lượng. Chọn cây Trà dầu (Camellia oleifera) khỏe mạnh, từ 2 năm tuổi trở lên, không sâu bệnh.

Thời điểm tốt nhất thường là vào mùa xuân hè (tháng 5 – 6). Chọn cành bánh tẻ khỏe mạnh từ cây mẹ ưu tú, cắt lấy đoạn có 1 – 3 mắt ngủ. Giữ lại 1 – 2cm lá ở phần ngọn cành ghép.

2.1. Ghép áp vỏ

  1. Ở gốc cành ghép (phía dưới mắt ngủ), vát một mặt dài 1.5 – 2cm, yêu cầu vết vát phẳng, mịn. Ở mặt đối diện, vát một mặt nhỏ hơn (dài ~0.6cm) tạo thành hình nêm.
  2. Cưa ngang thân gốc ghép ở độ cao mong muốn, làm phẳng mặt cắt. Ở một bên thân (chỗ vỏ nhẵn), dùng dao rạch một đường dọc qua lớp vỏ, sâu đến phần gỗ, chiều dài đường rạch hơi ngắn hơn mặt vát dài của cành ghép. Nhẹ nhàng dùng mũi dao tách hai bên mép vỏ đã rạch.
  3. Luồn mặt vát dài của cành ghép vào giữa lớp vỏ và phần gỗ của gốc ghép sao cho tầng tượng bì của cả hai tiếp xúc tốt với nhau. Để hở một phần nhỏ (~0.5cm) ở phía trên của mặt vát dài. Dùng dây nilon chuyên dụng buộc chặt vết ghép. Trùm túi nilon giữ ẩm bên ngoài, buộc kín ở phía dưới vết ghép.

2.2. Ghép nêm

  1. Phần trên cành ghép giữ 2-3 mắt ngủ, lá giữ lại 1 – 2cm. Vát hai bên gốc cành ghép tạo thành hình nêm dài 2 – 3cm (hai mặt vát phẳng, đối xứng), mặt phía ngoài của nêm hơi dày hơn mặt trong.
  2. Cưa ngang thân gốc ghép, làm phẳng mặt cắt. Dùng dao chẻ một đường giữa mặt cắt của gốc ghép, sâu khoảng 3 – 4cm.
  3. Nhẹ nhàng nạy mở vết chẻ trên gốc ghép, nhanh chóng luồn cành ghép đã vát nêm vào sao cho mặt nêm dày hơn hướng ra ngoài. Quan trọng là phải đảm bảo tầng tượng bì của cành ghép và gốc ghép tiếp xúc tốt với nhau. Để hở một phần nhỏ (~0.5cm) ở phía trên của mặt vát. Buộc chặt và trùm túi giữ ẩm tương tự như ghép áp vỏ.

Sau khi ghép 15 – 20 ngày, kiểm tra tỷ lệ sống của cành ghép. Nếu cành ghép bị đen, khô thì cần tiến hành ghép dặm kịp thời.

  • Sau khi ghép 30 – 45 ngày, khi chồi ghép đã nảy mầm, có thể mở một lỗ nhỏ trên túi nilon bọc ngoài để chồi non làm quen dần với môi trường. Khi chồi dài 6 – 7cm, chọn ngày râm mát hoặc chiều tối để tháo bỏ hoàn toàn túi nilon.
  • Thường xuyên kiểm tra và loại bỏ các chồi dại mọc ra từ gốc ghép để tập trung dinh dưỡng nuôi chồi ghép.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.