Hoa dừa cạn có tên khoa học là Catharanthus roseus. Loài này có nguồn gốc ở bờ biển Địa Trung Hải, Ấn Độ và châu Mỹ. Loài này được nhiều người trồng làm vườn cảnh và cây trồng trong nhà không chỉ bởi vẻ đẹp của hoa mà còn vì nó có thể phát triển ở những nơi các cây khác không bén rễ tốt như dưới bóng cây, ven nhà, đồng thời nó có thể nở hoa suốt mùa hè cho đến cuối thu. Dừa cạn không chỉ đẹp mà còn có một “điểm cộng” nữa là giúp thanh lọc không khí trong phòng.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Dừa cạn là loài cây bụi mọc thẳng cao tới 60cm, toàn cây không có lông hoặc chỉ có ít.

  • Lá có màng, hình trứng hoặc thuôn dài, dài 3 – 4 cm, rộng 1.5 – 2.5 cm, đầu lá tròn, gốc lá rộng, có khoảng 8 đôi gân bên.
  • Hoa ở nách lá hoặc ngọn, có 2 – 3 hoa; 5 lá đài hình mũi mác dài khoảng 3 mm; cánh hoa màu đỏ hình cánh quạt, ống hoa hình trụ dài khoảng 2.6 cm, mặt trong có lông thưa, họng co lại. Thùy cánh hoa hình trứng ngược, dài và rộng khoảng 1.5 cm; nhị hoa dính vào phần trên của ống.
  • Quả nang kép, song song hoặc hơi xẻ, dài khoảng 2.5 cm và đường kính 3 mm. Vỏ ngoài dày bề mặt ráp như giấy, có sọc và lông mu.
  • Hạt màu đen thuôn dài, hai đầu cụt. Thời kỳ ra hoa và ra quả gần như quanh năm.
Hoa-dừa-cạn-Đặc-điểm,-ý-nghĩa,-giá,-cách-trồng-&-chăm-sóc
Hoa-dừa-cạn-Đặc-điểm,-ý-nghĩa,-giá,-cách-trồng-&-chăm-sóc

2. Đặc điểm sinh trưởng

Dừa cạn ưa môi trường có nhiệt độ cao, độ ẩm cao, không chịu được rét đậm, nhiệt độ tốt nhất là 20 – 33°C (nhiệt độ trung bình trên 25°C cây sinh trưởng nhanh, nhiệt độ 2 – 9°C cây sinh trưởng chậm dần, lá chuyển sang màu vàng và rụng). Cây ưa nắng, không thích hợp với đất kiềm, ưa đất cát pha hoặc giàu mùn thoát nước tốt, thoáng khí.

Giống như hầu hết các loại cây thuốc có hạt nhỏ, dừa cạn có đặc điểm là sinh trưởng và phát triển chậm trong thời kỳ cây con nảy mầm dẫn đến cây trồng dễ bị ô nhiễm đất khiến cây con chết. Vì vậy, khi chọn địa điểm gieo hạt thì bạn phải chú ý đến tình trạng ô nhiễm của đất.

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

Cây có chứa hơn 80 loại alkaloid indole khác nhau, nhưng chỉ một số ít trong số đó được khoa học quan tâm, thuộc một trong hai nhóm: nhóm đầu tiên bao gồm các alkaloid ajmalicine, lochnerine, secpentine có tác dụng chữa bệnh tương tự như alkaloid; thứ hai bao gồm các alcaloid có hoạt tính chống ung thư bao gồm leurosine, vinblastine và vincristin… Các bộ phận trên mặt đất của cây rất giàu các nguyên tố vi lượng và vĩ mô bao gồm kali, canxi, sắt, magie và kẽm.

1.1. Chiết xuất

  • Vincristine trong hoa có tác dụng chống ung thư ở động vật rộng hơn blastine; alkaloid Ac-875, có tác dụng ức chế tốt với ung thư biểu mô cổ trướng Ehrlich ở chuột, ung thư gan cổ trướng.
  • Vinblastine là chất khó tổng hợp nhân tạo: Để sản xuất 1 gam vinblastine cần khoảng 500 kg lá khô nên việc sản xuất vinblastine rất khó khăn và kém hiệu quả. Mặc dù công nghệ tinh chế đã được cải tiến nhưng quá trình này vẫn tốn kém.

Cơ chế tác động chống ung thư là cả vinblastine và vincristine làm biến tính protein trục chính trong tế bào, ngăn chặn sự hình thành các sợi trục chính, từ đó ức chế quá trình nguyên phân và phân chia tế bào. Ngoài ra, chúng còn ức chế tổng hợp DNA và RNA polymerase, gây rối loạn tổng hợp RNA.

1.2. Dược liệu

Vinblastine (Rosevin) được dùng điều trị u lympho, đặc biệt hiệu quả trong điều trị bệnh Hodgkin (u hạt lympho) giai đoạn 3 và 4, ung thư Kaposi’s sarcoma, bệnh Letterer-Sieve, ung thư biểu mô màng đệm kháng các thuốc hóa trị liệu khác, kháng u nguyên bào thần kinh đến liệu pháp nội tiết tố, ung thư vú không thể phẫu thuật, các dạng bệnh nấm nấm nặng, u tủy, u tế bào mầm của tinh hoàn và buồng trứng, ung thư thận, bàng quang, vòm họng, phổi. Thuốc có thành phần hoạt chất là vinblastine chống chỉ định dùng cho phụ nữ có thai và cho con bú, bệnh nhân giảm bạch cầu, suy giảm chức năng tủy xương và các bệnh truyền nhiễm.

Trong y học dân gian, dừa cạn còn là một dược liệu tốt cho việc hạ huyết áp, chống co thắt và kháng khuẩn, phòng ngừa bệnh tiểu đường. Nó cũng được sử dụng để điều trị các bệnh phụ khoa khác nhau như polyp tử cung, u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung, vô sinh và được khuyên dùng cho u tuyến tiền liệt, bệnh trĩ và viêm tuyến tiền liệt.

Trong y học Ayurveda, chiết xuất rễ và chồi của cây đã được sử dụng để điều trị bệnh sốt rét và tiểu đường.

1.3. Độc tính

Loại hoa này có độc. Chỗ nào trên thân cây bị gãy sẽ tiết ra nhựa màu trắng, nhựa này có độc tính, dù vậy độc tính là rất nhỏ và sẽ không gây ra phản ứng nghiêm trọng đối với người. Dù sao cũng cần nhắc nhở trẻ nhỏ không ăn lá hay hoa của cây này.

các-giống-dừa-cạn
các-giống-dừa-cạn

2. Ý nghĩa

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc hoa

Dừa cạn có thể chịu được nhiệt độ cao nhưng nhiệt độ không nên quá 30°C, vì lá và hoa dễ bị héo.

  • Đất trồng hỗn hợp là tốt nhất bao gồm đất mùn lá, đất than bùn và cát thô. Nếu có điều kiện thì kết hợp thêm mùn cưa đã ủ và phân bánh để tăng độ phì.
  • Cây có thể chịu hạn ở mức nhẹ, không để úng nước trong chậu. Mùa hè tưới nước nhiều để giữ đất ẩm, mùa thu đông chỉ tưới nước khi đất đã khô.
  • Để ra hoa quanh năm thì phải có đủ chất dinh dưỡng, có nghĩa là trong giai đoạn sinh trưởng nên bón phân lỏng 1 – 2 lần/ tháng. Bón thúc khi có 4 – 6 lá thật, khi chồi mới mọc được 4 – 6 lá (15 – 20 ngày sau lần bón thúc đầu tiên) thì tiến hành bón thúc lần thứ 2. Bạn có thể sử dụng phân NPK tỷ lệ 20-10-20 hoặc 14-0-14, bón xen kẽ 7 – 10 ngày / lần với nồng độ 200 – 250 ppm.
  • Khi cành phát triển đến một độ dài nhất định thì nên cắt ngọn để kích thích cây phân nhánh. Cắt bỏ những bông hoa tàn để tiết kiệm chất dinh dưỡng. Khi cây mọc được 4 – 5 lá thì cắt bỏ chồi ngọn, các cành bên mới sẽ mọc ra từ mỗi nách lá. Khi cành bên mọc được 4  -5 lá thì tiếp tục cắt ngọn của cành bên.
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-hoa-dừa-cạn
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-hoa-dừa-cạn

2. Kiểm soát sâu bệnh

Bản thân cây dừa cạn có độc tính nên nó có khả năng kháng sâu bệnh tương đối. Các bệnh xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cây con như mốc xám. Các loài gây hại chính bao gồm: nhện đỏ, rệp, sâu bướm…

2.1. Thối rễ

Bệnh này do nấm Fusarium oxysporum, nó xâm nhập qua các vết thương ở rễ và tạo ra bào tử để phát bệnh. Bạn cần nhổ những cây bị bệnh và đốt bỏ, thay đất mới. Ngoài ra trong giai đoạn đầu có thể sử dụng thuốc tím tỷ lệ 1:500 – 1000 lần nước, hoặc 1: 600 lần polysulfide 40%, hoặc 1:500 lần carbendazim 50% phun liên tục 4 – 5 lần.

2.2. Nám

Lá ban đầu có những đốm nhỏ màu nâu sẫm, sau đó lan rộng thành những đốm lớn màu nâu đỏ, ở giữa lá có màu trắng xám và hoại tử, dần dần toàn bộ lá chuyển sang màu nâu và héo. Bệnh bắt đầu ở cuống lá. Bệnh này do nấm Alternaria từ các thực vật bị bệnh hoặc khi nhiệt độ cao và thời tiết mưa nhiều. Bạn có thể phun dung dịch 65% mancozeb tỷ lệ 1:600 lần nước hoặc 70,5% mancozeb 1:600 lần nước lên toàn bộ lá.

2.3. Vàng lá

Bệnh này do nấm phytoplasma. Bạn có thể phun phoxim 50% tỷ lệ 1:800 lần nước hoặc dichlorvos 50% 1:1000 lần nước.

cây-bị-vàng-lá
cây-bị-vàng-lá

2.4. Bệnh khảm

Triệu chứng khảm xuất hiện trên toàn cây khiến cây sinh trưởng kém, hoa cũng có đốm và dị dạng. Bệnh này do nhiễm virus khảm dưa chuột (CMV) chủ yếu trú đông trên cỏ dại lâu năm. Phương pháp là loại bỏ nguồn lây nhiễm càng sớm càng tốt.

3. Nguyên nhân lá bị héo

  • Do không đủ ánh sáng: Đối với cây lâu ngày không có đủ ánh sáng, khi ra nắng bị héo lá là do cường độ ánh sáng thay đổi quá nhanh. Bạn cần đưa dần thay vì đưa đột ngột ra ngoài nắng để nó có thời gian thích nghi. Hãy nhớ rằng càng ít phơi nắng thì cây càng sợ ánh sáng, khi đó nó sẽ phát triển thân và lá thay vì ra hoa. Cố gắng duy trì tối thiểu 4 giờ chiếu sáng/ ngày.
  • Do đất trồng bị cứng: Nếu lâu ngày không được thay chậu và đất thì đất dễ bị cứng, đặc, dính lại khiến đất khó thoát nước và thoáng khí nên lá sẽ héo ngay khi để ra nắng. Giải pháp là thay đất trồng mới, chu kỳ 1 – 2 năm/ lần.
  • Do rễ kém phát triển: Bón thêm một ít phân lân và kali thích hợp để rễ phát triển. Nhưng trong thời gian chờ rễ phát triển thì:
    • Để cây ở nơi thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp.
    • Kiểm tra rễ để loại bỏ rễ thối, ngâm trong dung dịch carbendazim tỷ lệ 1: 1000 lần trong 10 phút để khử trùng.

IV. Phương pháp nhân giống

Dừa cạn chủ yếu được trồng bằng cách gieo hạt nhưng đôi khi bằng cách giâm cành mặc dù tỷ lệ nảy mầm không bằng gieo hạt.

1. Gieo hạt

  • Thời gian thu hạt: Sau khi quả chín và chuyển sang màu đen, vỏ dễ nứt và mất hạt nên cần phải thu hoạch kịp thời. Khi thấy vỏ chuyển sang màu vàng và lờ mờ thấy hạt đen bên trong thì có thể thu hoạch được rồi.
  • Thời điểm gieo hạt: Khi nhiệt độ môi trường 20 – 25°C.
  • Chuẩn bị luống gieo: Đất trồng tốt nhất là hỗn hợp gồm than bùn + đá trân châu theo tỷ lệ 3:1 hoặc hỗn hợp đất trồng như khi giâm cành (bên dưới) sao cho giá trị pH từ 5.8 – 6.2 và giá trị EC từ 0.5 – 0.75.

Sau khi gieo hạt thì phủ một lớp cát mỏng, không để hạt tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, tưới nước vừa đủ và phủ lại bằng màng bọc hoặc rơm rạ để giữ ẩm cho đất, sau 7 -10 ngày hạt sẽ nảy mầm. Sau khi cây con mọc lên, bỏ màng và rơm rạ, tăng dần cường độ ánh sáng. Hạt chín duy trì tỷ lệ nảy mầm từ 95 – 100% trong suốt cả năm, sau 2 năm thì tỷ lệ còn 90%; sau 3 năm thì tỷ lệ nảy mầm giảm xuống còn 35%.

nhân giống gieo hạt cho cây
nhân giống gieo hạt cho cây
  • Khi rễ chính dài tới 1 – 2 cm, lá mầm mọc hết cỡ thì có thể bón phân, luân phiên sử dụng các loại phân hòa tan NPK 14-0-14 và 20-10-20 với nồng độ 50 – 75ppm.
  • 7 ngày sau có thể bón phân NPK hòa tan trong nước 20-10-20 hoặc 14-0-14 nồng độ 100 – 150 ppm. Bón 2 – 3 lần, cứ 7 ngày/ lần.
  • Tiếp tục bón phân lỏng nồng độ 100-150ppm loại NPK 14-0-14.

Để ngăn ngừa héo cây thì phun chlorothalonil hoặc thiophanate methyl tỷ lệ 1:800 lần nước, mỗi tuần một lần trong 2 – 3 tuần.

2. Giâm cành

Chọn những chồi khỏe của cây không sâu bệnh, có chiều dài ngọn từ 10 – 12 cm. Chất trồng là hỗn hợp cát mịn, vermiculite và than bùn. Mất khoảng 20 ngày để cành giâm ra rễ.

nhân-giống-dừa-cạn-bằng-phương-pháp-giâm-cành
nhân-giống-dừa-cạn-bằng-phương-pháp-giâm-cành

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.