Dã yên thảo: Đặc điểm, ý nghĩa, cách trồng & chăm sóc

Dã-yên-thảo-Đặc-điểm,-ý-nghĩa,-cách-trồng-&-chăm-sóc

Dã yên thảo là một chi thực vật có hoa có tên khoa học là Petunia, chi này có khoảng 20 loài và nổi bật nhất trong đó có lẽ là Petunia hybrida, nhưng đây lại là một loài cây lai giữa Petunia × atkinsiana. Do cây không có yêu cầu nhiều về nước, phân bón và đất, thời gian ra hoa dài, nhiều hoa, màu sắc tươi sáng nên là một loài hoa thích hợp trồng trong chậu treo trước cửa nhà. Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu về Petunia hybrida.

các-loài-dã-yên-thảo-phổ-biến-nhất
các-loài-dã-yên-thảo-phổ-biến-nhất

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Dã yên thảo là cây thân thảo hàng năm, một loài lai cao trung bình 30 – 60 cm, phủ đầy lông.

  • Thân dây leo mọc lan trên mặt đất. Lá có cuống ngắn hoặc gần như không cuống, lá hình trứng dài 3 – 8 cm và rộng 1.5 – 4.5 cm, nhọn ở mặt trên, mép nguyên.
  • Hoa mọc đơn độc ở nách lá, cuống hoa dài 3 – 5cm. Lá đài hoa có 5 thùy sâu, thùy hình dải dài 1 – 1.5 cm và rộng khoảng 3.5 mm, đỉnh lá tù. Cánh hoa màu trắng, hồng, tím có sọc khác nhau, hoa hình phễu dài 5 – 7cm, mép nở rộng và có nếp gấp, có 5 thùy nông; 4 nhị dài và 1 nhị ngắn.
  • Quả nang có hình nón, dài khoảng 1 cm, có 2 thùy và 2 thùy nông ở đầu mỗi thùy. Hạt cực kỳ nhỏ hình cầu, đường kính khoảng 0.5mm và có màu nâu.

Sau khi cây dã yên thảo được William Herbert nhân giống vào năm 1835, một giống cây dã yên thảo kép đã xuất hiện vào năm 1849. Năm 1876, một loạt cây dã yên thảo có hoa lớn tứ bội được phát triển thông qua đột biến tự nhiên. Năm 1879, các giống lùn có hoa nhỏ đã sớm được công bố.  Giống cây dã yên thảo lai đầu tiên được tạo ra vào năm 1930.

Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-cây
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-cây

2. Đặc điểm sinh trưởng

Dã yên thảo thích môi trường ấm áp và đầy nắng, không chịu được sương giá và sợ ngập úng. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng là 13°C – 18°C, không thấp hơn 4°C nếu không sẽ ngừng phát triển, nó có thể chịu được nhiệt độ cao trên 35°C vào mùa hè.

II. Tác dụng & ý nghĩa của hoa

1. Tác dụng

2. Ý nghĩa

Nói chung, các loài thuộc chi Petunia có ý nghĩa là cảm giác an toàn khi ở bên bạn, rất thích hợp để tặng cho người thân, bạn bè.

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-hoa-dã-yên-thảo
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-hoa-dã-yên-thảo

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc hoa

1. Trồng & chăm sóc cây

  • Cây thích trồng ở đất màu mỡ, hơi chua, thông gió tốt, thoát nước tốt, đất trồng nói chung có thể là hỗn hợp gồm đất thịt pha cát và đất mùn lá (có thể thêm đá perlite để tăng độ thoáng khí cho đất). Nếu trồng trong chậu thì nên chọn chậu có đường kính từ 15 – 20 cm và chậu sâu vì loài này có hệ thống rễ tương đối sâu.
  • Vì đây là cây sống lâu năm, cần điều kiện ánh sáng mạnh để quá trình quang hợp diễn ra thuận lợi, do đó hãy trồng ở nơi có đủ ánh sáng hoặc duy trì > 12 giờ ánh sáng mỗi ngày với ngưỡng nhiệt độ ban đêm > 10°C, thì cây có thể nở hoa quanh năm. Ngưỡng nhiệt độ lý tưởng cho cây là 13 – 18°C nhưng nó có thể chịu được nhiệt tới 35°C.
  • Cây cần được tưới nước vừa phải để tránh bị quá khô hoặc quá ướt. Bên cạnh đó, thường xuyên bón phân loãng theo nguyên tắc thường xuyên từ tháng 3 – 4 cứ 7 ngày/ lần và chọn phân có hàm lượng đạm, kali cao, hàm lượng lân thấp, phân đạm có thể chọn phân urê. Trước khi ra hoa cần ngừng bón phân đạm.
  • Cắt tỉa là thói quen rất quan trọng để kiểm soát thời gian ra hoa sớm hay muộn của cây, đặc biệt sau thời kỳ ra hoa thì nên cắt ngắn cành, chừa lại 2 – 3 cm ở mỗi cành để thúc đẩy cây tái phân nhánh và ra hoa trong đợt sau.
mẹo-cắt-tỉa-giúp-cây-phân-nhánh-nhiều-và-kích-thích-ra-hoa-nhiều-hơn-vào-đợt-sau
mẹo-cắt-tỉa-giúp-cây-phân-nhánh-nhiều-và-kích-thích-ra-hoa-nhiều-hơn-vào-đợt-sau

2. Kiểm soát sâu bệnh

2.1. Nhện

Loài côn trùng này thường bám vào thân và lá đẻ hút nhựa cây khiến cho những bộ phận bị ảnh hưởng chuyển sang màu xanh và trắng, bề mặt lá xuất hiện những đốm nhợt nhạt, quăn lại rồi sau đó dần chuyển sang màu vàng. Biện pháp phòng trừ kết hợp sử dụng thiên địch như bọ rùa, bọ cánh ren hoặc sử dụng các loại thuốc trừ sâu như 1,8% abamectin EC, 20% bột pyridaben hoặc 50% malathion EC.

2.2. Ruồi, rầy

Ruồi trưởng thành và ấu trùng rầy phấn trắng cũng hút nhựa ở mô sau của lá cây làm cho lá bị héo, vàng, trường hợp nặng có thể chết toàn bộ cây. Ngoài trứng thì chúng còn có thể tiết ra dịch ngọt tích tụ trên bề mặt lá, cành, tạo thành các vết ố đen. Ruồi trắng cũng là vật truyền bệnh virus cho cây. Bạn có thể phun 10% bột thấm imidacloprid để phòng trừ.

2.3. Rệp

Loài này thường tụ tập ở lá, thân non, nụ hoa, cũng hút nhựa cây làm cho lá co lại, cong lại và biến dạng. Biện pháp phòng trừ là phun 20% imidacloprid tỷ lệ 1:2500 lần nước; 50% pirimicarb tỷ lệ 1:3000 lần, 3% acetamiprid EC hoặc 4,5% cypermethrin EC. Nếu phát hiện số lượng lớn thì cần cách ly cây bị bệnh kịp thời và phun omethoate 10% tỷ lệ 1:1000 lần hoặc Malasulfide tỷ lệ 1:1000-1500 lần nước.

2.4. Bệnh phổ biến

Các bệnh phổ biến của cây dã yên thảo bao gồm nấm mốc trắng, đốm lá, bệnh do virus. Cụ thể như sau:

  • Mốc trắng xuất hiện các mảng màu trắng mốc trên thân và lá. Khi phát hiện bệnh thì cần loại bỏ lá kịp thời sau đó phun 75% chlorothalonil tỷ lệ 1:600 – 800 lần nước.
  • Bệnh đốm lá chủ yếu do điều kiện sinh trưởng không phù hợp. Cố gắng tránh làm dập lá, chú ý tránh gió mạnh, nắng và độ ẩm cao hoặc rét hại, kết hợp phun dung dịch desenonium 50% tỷ lệ 1:1000 lần nước

IV. Phương pháp nhân giống

Các phương pháp nhân giống dã yên thảo chính là nhân giống bằng hạt, giâm cành hoặc nuôi cấy mô.

1. Gieo hạt

Thời điểm gieo hạt tùy thuộc vào thời điểm cần hoa của thị trường, nếu cần hoa vào tháng 5 thì có thể gieo trong nhà kính vào tháng 1, nếu cần ra hoa vào tháng 10 thì gieo vào tháng 7. Hạt của hoa có kích thước rất nhỏ, 9.000 – 10.000 hạt mới được 1gr, nhiệt độ nảy mầm là 20 – 22°C, gieo vào đất mùn lá và cát mịn. Không cần phủ đất sau khi gieo, chỉ cần ấn nhẹ là khoảng 10 ngày sau hạt sẽ nảy mầm. Khi lá xuất hiện duy trì nhiệt độ phòng là 13 – 15°C.

Khi cây xuất hiện 2 đến 3 cặp lá thì duy trì nhiệt độ trung bình 18 – 20°C, bón dung dịch urê 0,1% hoặc dung dịch NPK tỷ lệ 15-15-15 cứ sau 7 – 10 ngày/ lần. Ở giai đoạn này, cần chú ý thông gió để ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh, đồng thời phun chlorothalonil hoặc thiophanate methyl tỷ lệ 1:800 – 1000 lần nước.

nhân-giống-bằng-phương-pháp-gieo-hạt
nhân-giống-bằng-phương-pháp-gieo-hạt

2. Giâm cành

Có thể giâm cành quanh năm, sau khi cây ra hoa thì cắt những chồi ngọn dài 10 cm cắm vào luống đất pha cát, nhiệt độ đất 20 – 25°C, cành giâm có thể ra rễ 15 – 20 ngày sau khi giâm, 30 ngày sau đó có thể trồng vào chậu riêng.

nhân-giống-dã-yên-thảo-bằng-phương-pháp-giâm-cành
nhân-giống-dã-yên-thảo-bằng-phương-pháp-giâm-cành

3. Nuôi cấy mô

Ssử dụng hạt, lá, buồng thụ tinh để nuôi cấy mô. Nếu dùng hạt thì ngâm hạt vào dung dịch tẩy rửa khoảng 5 phút, vớt ra và rửa sạch bằng nước. Trong điều kiện vô trùng, ngâm trong cồn 75% trong 8 phút, sau đó ngâm trong dung dịch thủy ngân clorid 0.1% trong 7 phút, lấy ra rửa sạch bằng nước vô trùng, cấy vào MS 0.1 mg/L (thêm 6-benzylaminoadenine 0,5-1,0 mg/L và axit naphthylacetic), các chồi nhỏ sẽ xuất hiện sau 15 ngày cấy.

Cắt các chồi nhỏ và chuyển chúng sang môi trường ban đầu để nuôi cấy. Sau 20 ngày, một chồi nhỏ có thể thu được hơn 10 chồi. Cắm chồi khỏe 1 cm vào môi trường 1/2MS chứa 0.05 – 0.20 mg/L naphthalene acetic acid. Sau 10 ngày, rễ sẽ hình thành và trở thành cây con hoàn chỉnh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.