Cây hoàng dương: Đặc điểm, công dụng, cách trồng & chăm sóc

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-hoàng-dương

Hoàng dương có cành lá rậm rạp, thường xanh có khả năng chống ô nhiễm không khí và hấp thụ các loại khí độc hại như sulfur dioxide. Đây là một chi thực vật có tên khoa học là Buxus xuất phát từ tiếng Hy Lạp “buxe”, có nghĩa là “dày đặc”. Loài này có khoảng 30 loài mọc hoang ở các nước Địa Trung Hải, Crimea Ukraine, Đông Nam Á và Tây Ấn. Các loài trong chi này phát triển tương đối chậm nhưng được ghi nhận có thể sống tới 500 năm.

I. Về chi Hoàng dương

Hoàng dương là chi thực vật phát triển chậm, có khoảng 100 loài trong tự nhiên và chúng có nguồn gốc từ Tây Ấn, Đông Á và các nước Địa Trung Hải. Các loài trong chi này là cây bụi, lá mọc đối, hoa mọc thành cụm ở nách lá hoặc ngọn cành. Hoa đơn tính trong đó hoa đực nằm ở mặt bên của cụm hoa, có 1 lá bắc và 4 lá đài xen kẽ nhau, 4 nhị hoa đối diện với lá đài và dài hơn lá đài; bao phấn nằm ở lưng hoặc gần gốc; hoa cái ở đầu ngọn có 6 lá đài và 3 lá bắc xếp thành 2 vòng; bầu nhụy có 3 ngăn, mỗi tế bào có 2 noãn.

Quả nang hình trứng hoặc hình elip, phía trên có 3 dạng sừng dai, phía sau có 3 cánh hoa nứt ra. Vỏ ngoài nứt ra, mỗi ngăn có 2 hạt màu đen, bóng, có thịt.

Các loài chính

1. Buxus microphylla (Hoàng dương Nhật)

  • Chiều cao trung bình không quá 150 cm, đường kính thân cây 10 cm. Tên gọi khác là hoàng dương lá nhỏ do lá của nó dài dưới 25 mm và rộng 8 – 15mm, bù lại nó có thể chịu nhiệt thấp -30ºC. Loài này cũng phân bố ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan.
  • Lá mọc đối, hình trứng ngược hơi dày và bóng, hầu như không cuống và dài khoảng 2 cm. Hoa nở từ tháng 3 đến tháng 4, hoa nhỏ màu vàng nhạt mọc thành cụm ở nách lá , có một hoa cái ở giữa và nhiều hoa đực xung quanh. Thân gỗ có màu vàng, cứng, được dùng làm đồ thủ công như lược, tem, mộc bản.
Buxus-microphylla-(Hoàng-dương-Nhật)
Buxus-microphylla-(Hoàng-dương-Nhật)

2. Buxus sinica (Hoàng dương Trung Quốc)

Là cây bụi hoặc cây thân gỗ nhỏ, cao trung bình 1 – 6 m; cành tròn màu trắng xám; cành non hình tứ giác, phủ lông tơ, đốt dài 5 – 20mm.

  • Lá có nhiều lông, hình elip rộng hoặc hình trứng ngược, hầu hết dài 1.5 – 3.5 cm và rộng 8 – 20mm, đỉnh lá tròn, thường có khía khía nhỏ. Bề mặt lá sáng, gân giữa nhô ra, mặt dưới thường có lông mịn, gân bên rõ, gân giữa phẳng hoặc hơi lồi. Cuống lá dài 1 – 2 mm, phủ đầy lông.
  • Cụm hoa mọc ở nách lá và có hình đầu, trục hoa dài 3 – 4 mm, lá bắc hình trứng dài 2 – 2.5 mm. Hoa đực không có cuống, lá đài ngoài hình trứng còn lá đài trong gần tròn, dài 2.5 – 3 mm, nhẵn; nhị hoa có bao phấn dài 4 mm, không nhụy hoa. Hoa cái có lá đài dài 3 mm, bầu nhụy không có lông, dày, dẹt.
  • Quả là quả nang gần như hình cầu, dài 6 – 8 mm, dài 2 – 3 mm. Thời kỳ ra hoa là vào tháng 3 và đậu quả là tháng 5 – tháng 6.
Buxus-sinica-(Hoàng-dương-Trung-Quốc)
Buxus-sinica-(Hoàng-dương-Trung-Quốc)

3. Buxus sempervirens (Hoàng dương châu Âu)

Cây bụi thường xanh có thể cao tới 15 mét.

Các lá mọc đối, cuống ngắn, lá hình trứng hoặc hình elip thuôn dài 3cm, đầu lá tù, mặt trên màu xanh đậm, mặt dưới nhạt hơn. Hoa nhỏ màu vàng lục, đơn tính, thường mọc thành cụm ở nách lá. Chủ yếu hoa đực, thường chỉ có 1 hoa cái ở trên cùng, bao hoa đơn giản, có 4 cạnh. Thường chỉ nở hoa khi sống được trên 15 năm. Hạt nằm bên trong quả, trông giống như hạt hướng dương nhỏ. Quả chín hoàn toàn nứt ra và hạt rơi ra ngoài.

Buxus-sempervirens-(Hoàng-dương-châu-Âu)
Buxus-sempervirens-(Hoàng-dương-châu-Âu)

4. Buxus colchica

Trong tự nhiên, nó được tìm thấy ở Tiểu Á và vùng cao nguyên Kavkaz. Chiều cao của cây có thể lên tới 20 m, chiều dài của các phiến lá dày đặc thay đổi từ 10 – 30 mm, bề mặt sáng bóng. Loài này có khả năng chịu nhiệt thấp tới -10ºC.

Buxus-colchica
Buxus-colchica

5. Buxus balearica

NTốc độ tăng trưởng nhanh và các phiến lá lớn (lên đến 40 mm) nhưng lại không chịu được sương giá mùa đông. Nó có nguồn gốc từ Quần đảo Balearic, hịu được ánh nắng trực tiếp và nhiệt độ cao.

Buxus-balearica
Buxus-balearica

II. Tác dụng & ý nghĩa

1. Công dụng

1.1. Làm cảnh

Loài này thường được trồng để tạo viền cho vườn cây, làm khung cho bồn hoa, cho cảnh quan đô thị.

1.2. Làm thuốc

  • Rễ và lá được dùng làm thuốc, có thể cắt và phơi khô. Tác dụng của nó là giúp khí huyết lưu thông hoặc làm dược liệu điều trị bệnh đau khớp thấp khớp, kiết lỵ, đau dạ dày, thoát vị, chướng bụng, đau răng, vết loét và sưng tấy. Cách dùng: Sắc 15 – 20 gam rễ và lá khô hoặc ngâm rượu, hoặc nghiền nát lá tươi rồi bôi lên chỗ đau.
  • Thân và cành có thể dùng chữa đau lạnh vùng thượng vị, chướng bụng, bầm tím, đau lạnh thoát vị

2. Ý nghĩa

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-hoàng-dương
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-hoàng-dương

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc cây

Loài này thân thấp nên chủ yếu được trồng theo hàng để làm hàng rào hoặc làm viền trang trí. Bạn có thể trồng nó trên đất cát, đất mùn. Khoảng cách thường trồng giữa các cây là: 40 – 50cm, hàng cách hàng 100 – 120cm. Trước khi trồng thì nên bón lót bằng phân hữu cơ phân hủy.

1. Trồng & chăm sóc

Cần tưới nước lần đầu trong vòng 24 giờ sau khi trồng cây, tưới lần thứ 2 cách 3 – 5 ngày, tưới lần thứ 3 sau khi tưới lần 2 từ 5 – 7 ngày, sau khi tưới đủ 3 lần thì có thể căn cứ vào thời tiết và điều kiện môi trường nhưng không được quá ẩm, úng. Cây con bị ngập nước dễ bị đổ, nghiêng, nếu có hiện tượng này cần phải nắn chỉnh lại và xới đất.

Hoàng dương cần nhiều phân lân trong giai đoạn cây con, nhiều đạm hơn trong giai đoạn sinh trưởng và nhiều kali hơn khi bước vào mùa thu. Sau khi trồng cây con có thể phun dung dịch kali dihydro photphat 0,4% lên lá, nên phun vào những ngày nhiều mây hoặc không khí ẩm vào buổi sáng và buổi tối, phun liên tục 3 – 4 lần. Cần chú ý nồng độ phân bón không quá cao để tránh làm cháy rễ non.

Trong giai đoạn sinh trưởng nhanh nên tăng số lượng và tần suất bón phân, ít nhất 1 tháng 1 lần, có thể dùng phân urê. Nếu bón khô thì rải xung quanh gốc vào rãnh sâu 20cm rồi lấp đất lại, lần bón phân đạm cuối cùng phải dừng lại trước khi vào thu. Vào thu thì ưu tiên bón phân lân và kali để cây phát triển rễ và cải thiện khả năng chống chịu lạnh.

cây-có-thể-chịu-được-cắt-tỉa-thường-xuyên
cây-có-thể-chịu-được-cắt-tỉa-thường-xuyên

Trong giai đoạn sinh trưởng nên hãy cắt bỏ những cành quá dài, cành chồng chéo hoặc cành ngọn phát triển quá mức.

Thông thường, việc này được thực hiện 2 – 3 năm một lần, tốt nhất là trước khi hạt nảy mầm vào mùa xuân. Khi thay chậu nên kết hợp cắt bỏ một số rễ già và rậm rạp, thay 1/2 đất cũ.

2. Phòng trừ sâu bệnh

Sâu hại chính của hoàng dương là côn trùng cánh vảy như Cydalima Perspectalis. Loài sâu bướm này có thể phá hủy ngay cả những cây thường xanh lớn nhất chỉ trong vài ngày, có thể bị tiêu diệt bằng cách bắt thủ công hoặc phun dung dịch dichlorvos 80% tỷ lệ 1:1500 lần nước. Bệnh chủ yếu là bệnh bồ hóng có thể gây rụng lá, cách phòng trừ chủ yếu là phun nước lên lá để rửa sạch bụi bẩn. Ngoài ra chú ý:

  • Bệnh phấn trắng xuất hiện ở mặt trên lá, hình thành các đốm phấn trắng, sau lan ra mặt sau và chồi non khiến lá co lại, biến dạng. Giai đoạn đầu có thể phun dung dịch 70% thiophanate methyl tỷ lệ 1:800 lần nước.
  • Bệnh bạc lá thường gây hại cho cành hoặc thân rễ, ban đầu xuất hiện những đốm hoại tử, sau khiến lá và cành bắt đầu héo và chết dần từ trên xuống dưới. Khi bệnh nặng có thể phun 50% bột carbendazim tỷ lệ 1:800 – 1000 lần nước.
  • Bệnh thán thư chủ yếu xâm nhập từ trung mô của lá, xuất hiện những đốm màu nâu không đều, sau lá chuyển sang màu vàng và rụng dần. Trong giai đoạn đầu có thể phun bột thiram tỷ lệ 1:800 lần nước hoặc 75% bột chlorothalonil 1:800 lần nước.
  • Đốm lá xuất hiện những đốm nhỏ màu vàng sau đó lan rộng thành những đốm lớn không đều màu nâu. Bệnh này dễ lây nên khi phát hiện phải phun thuốc trừ sâu kịp thời. Trong giai đoạn đầu có thể sử dụng dung dịch Bilinda tỷ lệ 1:800 – 1000 lần, 75% thiophanate hoặc 50% carbendazim hoặc chlorothalonil 75% tỷ lệ 1:500 lần nước.

IV. Phương pháp nhân giống

Nhân giống hoàng dương chủ yếu bằng cách giâm cành hoặc gieo hạt.

1. Giâm cành

Chọn những cành có chồi non, cành khỏe nhưng chưa hóa thân gỗ và cắt đoạn dài 10 – 15 cm, cắt xiên, bỏ lá ở phần dưới rồi ngâm trong nước hoặc dung dịch kích rễ khoảng 1 ngày (hoặc theo hướng dẫn trên bao bì) rồi cắm vào đất trồng gồm phân hữu cơ, mùn lá và cát tỷ lệ bằng nhau miễn sao đất nhẹ và giàu dinh dưỡng, sau đó bọc màng nilon lại để tạo hiệu ứng nhà kính, mở ra 20 phút mỗi ngày kết hợp tưới nước để giữ ẩm cho đất. Rễ sẽ bắt đầu hình thành sau 1 tháng, và sau 2 tháng có thể bỏ màng nilon.

nhân-giống-bằng-phương-pháp-giâm-cành
nhân-giống-bằng-phương-pháp-giâm-cành

2. Gieo hạt

Đất gieo hạt tốt nhất là đất pha cát, trước khi gieo hạt nên làm luống rộng 80 cm, dày 15 – 20 cm, chiều dài tùy theo số lượng hạt giống. Đất cần được khử trùng bằng phoxim 0,1% hoặc pentachloronitrobenzen. Trước khi gieo hạt phải ngâm trong nước sạch khoảng 30 tiếng. Làm rãnh sâu 3cm rồi rải đều hạt vào rãnh, phủ đất 1cm lại, sau đó phủ rơm rạ dày 30 cm lên luống. Dùng bình tưới tưới 1 lần rồi tưới vào rơm 2 đến 3 lần/tuần cho đến khi hạt bén rễ sau khoảng 1 tháng.

nhân-giống-hoàng-dương-từ-hạt-giống
nhân-giống-hoàng-dương-từ-hạt-giống

3. Xếp lớp

Vào mùa xuân, các cành non được uốn cong gần sát đất và chôn xuống rãnh đất cho đến khi các chồi trên cành bắt đầu bén rễ thì tách ra và trồng riêng.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.