Cây chuỗi ngọc còn có tên khác như thanh quan, rìa xanh, chuỗi xanh, chuỗi vàng, tên khoa học của nó là Duranta erecta (hoặc Duranta repens và Duranta Plumieri). Đây là một loài cây bụi rậm mọc thẳng, cành mềm, lá xanh, mọc dày nên được trồng làm hàng rào hoặc dọc theo các đường viền cảnh quan.

I. Đặc điểm hình thái & sinh trưởng

1. Đặc điểm hình thái

Thanh quan là cây bụi lớn hoặc cây gỗ nhỏ thường xanh, thuộc họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae). Cây thường cao 1 – 5 mét (có giống lùn và giống cao), phân nhiều nhánh. Cành nhánh thường vươn dài, mềm mại và có xu hướng rủ xuống hoặc bò trườn. Cành non thường có tiết diện vuông, màu xanh lục, có thể có lông tơ mịn hoặc nhẵn; cành già màu nâu xám. Đặc biệt, nách lá thường có gai nhọn sắc (một số giống trồng có thể không gai hoặc ít gai).

  •  đơn, mọc đối (ít khi mọc vòng 3 lá). Cuống lá ngắn (0.6 – 2 cm), có thể có lông. Phiến lá hình dáng khá đa dạng, thường là hình trứng, elip hoặc trứng ngược, dài 2 – 8.5 cm, rộng 1.5 – 5 cm. Đầu lá nhọn hoặc tù, gốc lá hình nêm. Mép lá nguyên hoặc thường có răng cưa ở nửa trên của phiến lá. Chất lá dạng giấy hoặc hơi dai. Mặt trên lá màu xanh lục, có thể bóng, mặt dưới nhạt màu hơn. Lá thường nhẵn hoặc có ít lông mịn dọc gân lá ở mặt dưới.
  • Cụm hoa dạng chùm (raceme) dài, thường mọc ở đầu cành hoặc nách lá gần ngọn, các chùm hoa thường buông rủ xuống, đôi khi phân nhánh tạo thành dạng chùy thưa. Chiều dài cụm hoa có thể từ 10 – 20 cm hoặc hơn. Hoa nhiều, nhỏ, có thể có mùi thơm nhẹ như vani. Cuống hoa ngắn (2 – 4mm).
    • Đài hoa: Hình ống hoặc chuông nhỏ, dài 3 – 5 mm, thường có 5 gân dọc, đỉnh chia 5 răng nhọn, có lông mịn, ôm chặt lấy quả khi quả phát triển.
    • Tràng hoa: Hình ống loe ở đỉnh, ống tràng hơi cong, đường kính miệng hoa khoảng 1 – 1.5 cm. Miệng ống chia 5 thùy không đều nhau một chút, đỉnh thùy tròn. Màu sắc hoa phổ biến nhất là xanh lam, tím lavender, tím đậm, cũng có giống hoa trắng. Bên trong họng hoa hoặc trên các thùy thường có các vệt hoặc đường sọc màu trắng hoặc sẫm hơn.
    • Nhị 4, đính trên ống tràng và nằm ẩn bên trong ống tràng. Bầu nhụy thượng, không lông, thường có 4 – 8 ô. Vòi nhụy ngắn hơn ống tràng, đầu nhụy hình đầu.
  • Quả thuộc loại quả hạch mọng nước, hình cầu hoặc hình trứng dài, đường kính khoảng 0.7 – 0.8 cm, dài 1 – 1.2 cm. Quả được bao bọc bởi đài hoa màu xanh lục. Khi chín, quả có màu vàng cam hoặc vàng óng rất đẹp mắt. Quả mọc thành chùm dài, sai trĩu, rủ xuống (nên có tên gọi dân gian là Chuỗi ngọc).
  • Hạt: Mỗi quả chứa khoảng 4 – 8 hạt cứng.

Ở vùng khí hậu ấm áp như Việt Nam, cây Thanh quan có thể ra hoa và đậu quả gần như quanh năm, nhưng thường nở rộ nhất vào mùa hè và mùa thu (khoảng tháng 6 đến tháng 11).

Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-chuỗi-ngọc
Đặc-điểm-hình-thái-&-sinh-trưởng-của-chuỗi-ngọc

2. Đặc điểm sinh trưởng

Chuỗi ngọc ưa môi trường ấm áp, nhiều nắng, mát mẻ và thông thoáng. Cây có thể chịu được bóng râm nhẹ nhưng phát triển tốt và sai hoa nhất ở nơi có ánh nắng mặt trời đầy đủ. Cây không chịu được lạnh, nhiệt độ qua đông cần duy trì trên 5°C.

Về đất trồng, cây rất dễ thích nghi, có thể sống trên nhiều loại đất khác nhau (từ đất cát, đất thịt nặng đến đất chua hoặc đất có đá vôi) miễn là thoát nước tốt. Tuy nhiên, cây ưa đất màu mỡ và sẽ phát triển kém nếu đất quá nghèo dinh dưỡng. Cây ưa ẩm, chịu được ẩm ướt tốt nhưng không chịu được khô hạn kéo dài.

II. Tác dụng & ý nghĩa của cây

1. Tác dụng

1.1. Cảnh quan & sinh thái

Thanh quan là cây cảnh rất giá trị nhờ dáng đẹp, dễ tạo hình (do cành mềm, chịu cắt tỉa), hoa màu lam tím hoặc trắng nở kéo dài và đặc biệt là những chùm quả mọng màu vàng cam óng ánh, sai trĩu, buông rủ xuống như chuỗi ngọc, tồn tại rất lâu trên cây, tạo vẻ đẹp sang trọng và vui mắt. Cây được trồng cực kỳ phổ biến làm hàng rào, tường cây xanh, hoa leo giàn, trồng thành bụi hoặc trồng chậu, bonsai. Cây cũng thu hút nhiều loài bướm đến hút mật và có khả năng giữ đất, chống xói mòn tốt nhờ bộ rễ phát triển.

chuỗi-ngọc-được-trồng-theo-hàng-lối-làm-hàng-rào-hoặc-viền-cảnh-quan
chuỗi-ngọc-được-trồng-theo-hàng-lối-làm-hàng-rào-hoặc-viền-cảnh-quan

1.2. Dược liệu

Theo kinh nghiệm dân gian, lá, quả và rễ cây được dùng làm thuốc với công dụng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tiêu sưng, giảm đau… dùng để trị sốt rét, mụn nhọt, chấn thương bầm tím.

Các tài liệu đều ghi nhận lá và đặc biệt là quả có độc tính nhẹ. Nếu ăn phải có thể gây ra các triệu chứng ngộ độc như đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, buồn ngủ, sốt, co giật… Tuyệt đối không được ăn quả và cần hết sức cẩn trọng nếu muốn sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm dân gian, phải có sự hướng dẫn của người có chuyên môn.

2. Ý nghĩa

III. Hướng dẫn trồng & chăm sóc cây

Chọn nơi nắng đầy đủ, đất sâu, màu mỡ, tơi xốp, thoát nước tốt (đất thịt pha cát hoặc đất mùn pha đá/cát là lý tưởng). Chuẩn bị đất kỹ, bón lót phân hữu cơ trước khi trồng vào mùa xuân hoặc thu. Đào hố rộng, trồng cây sao cho cổ rễ ngang mặt đất.

Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-thanh-quan
Hướng-dẫn-trồng-&-chăm-sóc-cây-thanh-quan
  • Cần nắng đầy đủ. Ưa ấm áp, chịu nóng tốt nhưng cũng chịu lạnh tương đối (có thể chịu được sương giá nhẹ).
  • Tưới nước khi đất mặt bắt đầu khô. Giữ ẩm đều trong mùa sinh trưởng nhưng đảm bảo thoát nước tốt, cây không chịu úng. Cây trưởng thành chịu hạn khá tốt.
  • Bón phân tan chậm cân đối vào đầu mùa xuân. Có thể bổ sung phân lỏng định kỳ (2 – 4 tuần/lần) trong mùa sinh trưởng và ra hoa nếu đất nghèo dinh dưỡng.
  • Cây chịu cắt tỉa tốt và cần tỉa để giữ dáng đẹp (dáng bụi tròn, mở tâm), khuyến khích ra hoa và quả. Tỉa mạnh vào cuối đông/đầu xuân. Tỉa nhẹ sau các đợt hoa. Loại bỏ cành khô, yếu, sâu bệnh.

Cây ít bị bệnh nhưng cần chú ý sâu đục thân (gây hại thân cành) và ốc sên (ăn hoa, quả non). Phòng trừ sâu đục thân bằng cách vệ sinh vườn, cắt bỏ cành bị hại, dùng thuốc BVTV phù hợp. Phòng trừ ốc sên bằng cách rắc vôi bột hoặc bắt thủ công.

IV. Phương pháp nhân giống

1. Gieo hạt

Có thể thu hoạch quả quanh năm. Sau khi thu hoạch, cần ủ quả trong nước khoảng 1 tuần cho vỏ quả mềm và chuyển màu đen, sau đó rửa sạch để lấy hạt. Hạt không có giai đoạn ngủ nghỉ, nên gieo ngay vì hạt dễ mất sức nảy mầm nếu để khô. Gieo hạt vào giá thể ẩm, tơi xốp, phủ một lớp đất mỏng (khoảng 1.5 cm), giữ nhiệt độ trên 20°C. Hạt sẽ nảy mầm sau khoảng 10 ngày (tỷ lệ nảy mầm khoảng 50%). Cây con cần được chăm sóc trong khoảng 2 năm mới đủ lớn để trồng ra chậu lớn hoặc trồng cố định ngoài vườn.

2. Giâm cành

Thời điểm tốt nhất là cuối xuân đến đầu hè. Chọn cành bánh tẻ khỏe mạnh (thường là cành 1 – 2 năm tuổi), cắt đoạn dài 15 – 25 cm sao cho có ít nhất 3 mắt ngủ. Có thể nhúng phần gốc cành vào dung dịch kích thích ra rễ (như ABT hoặc IBA) trong khoảng 1 phút để tăng tỷ lệ thành công. Giâm khoảng 2/3 chiều dài cành vào giá thể ẩm, thoát nước tốt (như cát hoặc đất pha cát). Giữ ẩm liên tục. Cành sẽ ra rễ sau khoảng 1 tháng. Cây giâm cành có thể phát triển cao tới 50cm ngay trong năm đầu tiên.

nhân-giống-thanh-quan-bằng-cách-giâm-cành
nhân-giống-thanh-quan-bằng-cách-giâm-cành

3. Xếp lớp

Thường thực hiện vào mùa xuân (tháng 3 – 4). Chọn những cành thấp, khỏe mạnh, dễ uốn cong sát mặt đất. Tại vị trí mong muốn (thường là dưới một mắt ngủ), dùng dao sắc khoanh hoặc cạo nhẹ một đoạn vỏ rộng khoảng 1cm xung quanh cành. Ghim cố định phần cành đã xử lý vỏ xuống đất và lấp đất ẩm lên trên, chỉ để hở phần ngọn cành. Luôn giữ ẩm cho phần đất lấp. Sau khoảng 2 tháng, cành sẽ ra rễ tại vị trí xử lý vỏ. Chờ đến mùa đông năm sau hoặc đầu xuân năm sau thì có thể cắt rời cành chiết đã có rễ khỏe mạnh khỏi cây mẹ để trồng thành cây mới.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.